Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Quảng Cáo

    Tuan.png Giao_an_20252026.png 12_Bai_1_4_diem_cuc_Viet_Nam.flv FB_IMG_1757055812721.jpg IMG_20250905_141436.jpg IMG_20250421_064827.jpg IMG_20250421_064806.jpg IMG_20250421_064919.jpg IMG_20240909_145053.jpg Z5834746222482_db26d20fe5292d2c04503ff2b5a416b4.jpg Gioi_han_sinh_thai_xuong_rong.png Gioi_han_sinh_thai_cua_tam.png Gioi_han_sinh_thai_ca_ro_phi.png BANDOKINHTE.jpg HB_NHOMNUOC.jpg HB_MDDS.jpg Ban_do_cac_nuoc_Dong_Nam_A.jpg IMG_20240830_081253.jpg

    Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên GD&ĐT Đắc Lắk.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Bài 9 Những chân trời kí ức

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: may
    Người gửi: Trần Ngọc Ngoan (trang riêng)
    Ngày gửi: 03h:52' 02-10-2023
    Dung lượng: 168.7 KB
    Số lượt tải: 78
    Số lượt thích: 0 người
     Bài 9: Những chân trời kí ức
    Soạn bài Tri thức ngữ văn trang 77 Tập 2 - Chân trời sáng
    tạo
    1. Truyện kí là thể loại trung gian giữa truyện và kí. Truyện kí rất
    gần với kí ở yêu cầu về tính xác thực dựa trên việc ghi chép người
    thật, việc thật; nhưng cũng gần với truyện ở chỗ thường có cốt
    truyện hoàn chỉnh hoặc tương đối hoàn chỉnh. Tuy được xem là thể
    loại phi hư cấu nhưng do yêu cầu dung hoà yếu tố truyện với yếu tố
    kì yêu cầu thể hiện tính xác thực theo cách riêng của thể loại, người
    viết truyện kí cũng được phép hư cấu ở một mức độ nhất định.
    2. Sự kết hợp giữa phi hư cấu và hư cấu trong truyện kí
    Phi hư cấu là cách phản ánh hiện thực theo nguyên tắc đề cao tính
    xác thực bằng cách gọi thẳng tên và miêu tả càng chính xác càng
    tốt những con người và sự kiện có thực”, đặc biệt là đối với các chi
    tiết, sự kiện mang thông tin xác định, có thể kiểm chứng (gọi là
    “thành phần xác định”) như: tên tuổi, lai lịch, ngoại hình, nguồn gốc
    gia đình, ngọn nguồn văn hoá, quan hệ gia đình – xã hội... của nhân
    vật; thời gian, không gian, địa điểm.... thuộc bối cảnh của câu
    chuyện hay diễn biến của sự việc...
    Hư cấu là dùng trí tưởng tượng sáng tạo ra cái mới, những điều
    khác lạ không có hoặc chưa có trong thế giới thực nhằm mục đích
    nghệ thuật. Trong truyện kí, có không ít loại chi tiết, yếu tố không
    xác định, không cần và không thể kiểm chứng như: diễn biến nội
    tâm của nhân vật, tác động của cảnh sắc thiên nhiên, sinh hoạt xã
    hội đối với tình cảm, cảm xúc của con người, các hành vi, lời thoại
    giao tiếp ngẫu hứng của nhân vật, sự góp mặt của các nhân vật
    phụ.... (gọi chung là “thành phần không xác định”).
    3. Lỗi về thành phần câu và cách sửa
    Lỗi về thành phần câu là các lỗi liên quan đến các thành phần trong
    câu như chủ ngữ vị ngữ, trạng ngữ...
    Sau đây là một số kiểu lỗi về thành phần câu và cách sửa:
    • Thiếu thành phần câu

    – Thiếu thành phần chủ ngữ
    Ví dụ: Qua tác phẩm “Tắt đèn” cho thấy hình ảnh người phụ nữ
    nông dân trong chế độ cũ dù chịu nhiều áp bức, bất hạnh nhưng
    vẫn luôn mạnh mẽ, quật cường.
    Cách sửa: thêm chủ ngữ “tác giả” trước “cho thấy” hoặc bỏ từ “qua”
    để “tác phẩm Tắt đèn” trở thành chủ ngữ.
    – Thiếu thành phần vị ngữ
    Ví dụ: Lòng tin sâu sắc của những thế hệ cha anh vào lực lượng
    măng non và xung kích sẽ tiếp bước mình.
    Cách sửa: thêm thành phần vị ngữ cho câu. Lòng tin sâu sắc của
    những thế hệ cha anh vào lực lượng măng non và xung kích sẽ tiếp
    bước mình là nguồn động lực kích thích mạnh mẽ sức sáng tạo của
    thế hệ trẻ.
    – Thiếu cả thành phần chủ ngữ và vị ngữ
    Ví dụ: Khi tôi đến Đà Lạt vào mùa xuân.
    Cách sửa: thêm thành phần chủ ngữ, vị ngữ cho câu. Khi đến Đà
    Lạt vào mùa xuân, tôi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của các loài hoa ở
    nơi này.
    • Không phân định rõ các thành phần câu
    Ví dụ: Về cách làm công nghiệp hoá của nhiều cán bộ khoa học,
    cán bộ kĩ thuật, cán bộ quản lí, công nhân, viên chức, các nhà
    doanh nghiệp tập trung kiến nghị: [...].
    Cách sửa: phân định rõ các thành phần câu. Về cách làm công
    nghiệp hoá, nhiều cán bộ khoa học, cán bộ kĩ thuật, cán bộ quản lí,
    công nhân, viên chức, các nhà doanh nghiệp tập trưng kiến nghị:
    [...].
    • Sắp xếp sai trật tự thành phần câu
    Ví dụ: Vào ba giờ sáng ngày mai, tôi quyết định đi ra sân bay.
    Cách sửa: sắp xếp lại vị trí các thành phần trong câu cho phù
    hợp. Tôi quyết định đi ra sân bay vào bầy giờ sáng ngày mai.

    Soạn bài Ngôi nhà tranh của cụ Phan Bội Châu ở Bến
    Ngự - Chân trời sáng tạo
    * Chuẩn bị đọc
    Câu hỏi (trang 80 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Chia sẻ những điều bạn
    biết về cụ Phan Bội Châu, người được mệnh danh là “Ông Già Bến
    Ngự”.
    Trả lời:
    - Cụ Phan Bội Châu (1867-1940) là một nhà cách mạng, nhà văn,
    nhà giáo dục, và là một trong những nhân vật lớn của phong trào
    Đông Du.
    - Cụ Phan Bội Châu được mệnh danh là "Ông Già Bến Ngự" bởi vì
    ông đã có một cuộc đời rất dài và đầy những trăn trở. Ông đã trải
    qua nhiều khó khăn trong cuộc đời của mình, nhưng vẫn luôn cố
    gắng và không bao giờ từ bỏ những ước mơ và lý tưởng. Ông vẫn
    luôn được nhớ đến như một người đàn ông kiên cường, hy vọng, và
    quyết tâm.
    * Trải nghiệm cùng văn bản
    1. Suy luận: Chú ý các chi tiết miêu tả ngôi nhà của cụ Phan Bội
    Châu và tâm trạng của hai chàng học sinh Tuấn, Quỳnh lúc mới
    bước vào ngôi nhà.
    - Những chi tiết miêu tả ngôi nhà của cụ Phan Bội Châu:
    + “chiếc cổng sơ sài bằng hai trụ gỗ, trên đóng ngang một tấm bảng
    để một dòng chữ đen: Nhà đọc sách Phan Bội Châu”
    + “Chiếc cổng dựng ngay giữa một hàng rào cây, và luôn luôn mở
    rộng”
    + “...sân hẹp…thềm nhà tô xi măng”
    + “Nhà có ba gian rộng rãi, để trống”
    - Những chi tiết thể hiện tâm trạng của hai chàng học sinh Tuấn,
    Quỳnh lúc mới bước vào ngôi nhà:
    + “không do dự… đi rón rén, giữ lễ phép”

    + “Tuấn hồi hộp tưởng sắp sửa được trông thấy cụ Phan”
    2. Liên hệ: Hình ảnh cụ Phan Bội Châu qua lời kể của Tuấn giống
    và khác thế nào so với những gì bạn từng hình dung về cụ trước khi
    đọc văn bản?
    - Hình ảnh cụ Phan Bội Châu qua lời kể của Tuấn:
    + “chòm râu phong phú, mắt đeo kính trắng, vòm trán cao vút tận
    đỉnh đầu”
    + “bước đi thư thả, tay mặt chống ba toong… - tay trái hơi cong, bàn
    tay lấp dưới tà áo nâu dài”
    + “trông cụ không khác nào một vị tiên lão da mặt hồng hào, đang
    bước thung dung ở dưới bóng cây”
    = > Qua lời kể của Tuấn, cụ Phan Bội Châu hiện lên là một người
    hiền tài với phong thái ung dung, từ tốn.
    - Hình ảnh cụ Phan Bội Châu qua lời kể của Tuấn giống với hình
    dung của em về ngoại hình, phong thái của cụ: tính cách nghiêm
    khắc, lạnh lùng nhưng vẫn toát lên sự nghiêm trang, tôn kính…
    3. Vì sao: Vì sao Tuấn “hoàn toàn thoả mãn” trong ngày đầu tiên
    đến Huế?
    Vì: Tuấn được đến thăm cụ Phan Bội Châu – người mà Tuấn luôn
    nể phục, kính trọng, được chiêm ngưỡng dung nhan của cụ, được
    vinh dự hầu chuyện trên ba tiếng đồng hồ với cụ, được cụ hỏi han
    khuyên bảo.
    * Suy ngẫm và phản hồi
    Nội dung chính: 
          Văn bản đề cập đến câu chuyện của Tuấn khi đến thăm nhà cụ
    Phan Bội Châu ở Bến Ngự. Được ngắm nhìn và được cụ chỉ dạy
    cho nhiều điều về cuộc sống và tình yêu nước.

    * Suy ngẫm và phản hồi
    Câu 1 (trang 83 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Tóm tắt nội dung câu
    chuyện được kể trong văn bản.
    Trả lời:
    Văn bản thuật lại việc Tuấn cùng với bạn mình là Quỳnh đến Thăm
    cụ Phan Bội Châu tại ngôi nhà tranh mà cụ ở Bến Ngự vào một
    ngày Chủ nhật, năm 1927. Thông qua một em bé trong nhà cụ
    Phan, thì Tuấn biết được cụ Phan đang bán gạo cho những người
    dân nghèo quanh đó. Cụ Phan xuất hiện với dáng vẻ hiền từ, phong
    thái thư thả và giản dị. Cụ ung dung và thoải mái đến chỗ Tuấn và
    hỏi han về thông tin của hai cậu. Sau đó cụ còn chỉ dạy rất nhiều
    cho Tuấn về cuộc sống, về lòng yêu đất nước và biết yêu thương
    nhân dân. Cụ đứng nói chuyện với hai cậu nhưng vẫn không quên
    đi bán gạo cho bà con. Sau đó họ lại được chứng kiến rõ hơn căn
    nhà mà cụ Phan đang ở, qua sự chỉ dẫn của một em bé sống trong
    nhà của cụ. Căn nhà của cụ rất đơn sơ mộc mạc, xung quanh được
    treo một số bức tranh. Ngôi nhà của cụ ở trên một xóm nhỏ, xa xa là
    kinh thành Huế và các khu chợ đông đúc. Nhưng ngôi nhà như
    không vướng chút khói bụi nhộn nhịp nào mà chỉ có sự giản dị và
    tình yêu nước thương dân của con người nơi đây. Qua đó, Tuấn
    hiểu thêm về cuộc sống và còn người của cụ Phan Bội Châu.
    Câu 2 (trang 83 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Theo bạn, câu chuyện
    này có ý nghĩa như thế nào trong việc thực hiện ý đồ, mục đích viết
    tác phẩm Tuấn – chàng trai nước Việt của Nguyễn Vỹ?
    Trả lời:
    - Ngôi nhà tranh ba gian, cuộc sống và con người của Phan Bội
    Châu (cùng với hàng loạt sự kiện, nhân vật khác) được thuật lại một
    cách vô tư, khách quan và chân thật, cho thấy những sự kiện, biến

    đổi phi thường về lịch sử, xã hội... trong đời sống tinh thần và vật
    chất của nhân dân Việt Nam từ năm 1900 đến nay.
    Câu 3 (trang 83 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Tìm hiểu về cuộc đời, con
    người của cụ Phan Bội Châu, lưu ý các sự kiện, tư liệu có liên quan
    trực tiếp đến đoạn trích Ngôi nhà tranh của cụ Phan Bội Châu ở Bến
    Ngự. Từ đó, liệt kê một số sự việc, chi tiết phi hư cấu (thành phần
    xác định) và hư cấu (thành phần không xác định). Có thể dùng mẫu
    bảng dưới đây (làm vào vở):

    Sự việc, chi tiết
    Ví dụ: Cụ Phan Bội Châu và việc cụ bị
    thực dân Pháp giam lỏng ở Huế

    Thành phần xác Thành
    phần
    định
    (không không xác định
    được hư cấu)
    (có thể hư cấu)

    X

    Ví dụ: Cảm nhận của nhân vật Tuấn khi
    gặp cụ Phan Bội Châu: “Trông cụ không
    khác nào một vị tiên lão da mặt hồng
    hào, đang bước thung dung ở dưới
    bóng cây”.

    X


     Trả lời:
    Tham khảo

    Sự việc, chi tiết

    Thành phần xác Thành
    phần
    định
    (không không xác định
    được hư cấu)
    (có thể hư cấu)

    Họ tên nhân vật Phan Bội Châu.

    X

    Việc cụ Phan bị thực dân Pháp giam
    X
    lỏng ở Huế.
    Việc nhân dân ba kì góp tiền dựng nhà

    X

    Chuyện mật thám theo dõi cụ Phan và
    X
    những ai đến thăm cụ.
    Thời gian: năm 1927

    X


    “-Vậy chớ tụi mẩy ở Huế thường ngày
    không đến thăm cụ sao?”

    X

    “– Thôi không cần, hai đứa mình đi đến
    thăm cụ, chớ có làm gì mà sợ”.

    X

    “Tuấn được hoàn toàn thỏa mãn”.

    X

    Những câu nói cụ thể của nhân vật

    X


    Câu 4 (trang 83 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Nêu tác dụng của việc kết
    hợp giữa phi hư cấu với hư cấu trong văn bản.
    Trả lời:
    - Tác dụng của thành phần xác định: Bảo đảm tính xác thực theo
    nguyên tắc phi hư cấu để khi cần, người đọc có thể dễ dàng kiểm
    chứng...
    - Tác dụng của thành phần không xác định khi được sử dụng kết
    hợp ở mức độ cho phép: Bù lấp những khoảng trống bảo đảm sự
    hoàn chỉnh của cấu trúc tác phẩm trong chỉnh thể của nó, làm cho
    văn bản tác phẩm có tính nghệ thuật, thẩm mĩ ...
    → Cũng như trong truyện kí nói chung, tác dụng của phi hư cấu
    trong văn bản trên là tác giả “gọi thẳng tên và miêu tả càng chính
    xác càng tốt những con người và sự kiện có thực”, bảo đảm tính
    xác thực về sự việc, nhân vật, câu chuyện được kể. Riêng với văn
    bản trên và Tuấn - chàng trai nước Việt còn có thêm tác dụng ghi
    chép, lưu giữ sự kiện, nhân vật lịch sử liên quan đến một quãng đời
    của nhà ái quốc Phan Bội Châu. Yếu tố hư cấu được sử dụng đan
    xen, giúp cho nhân vật, bởi cảnh thêm sống động, gia tăng cảm
    giác, ấn tượng vẽ tính xác thực.

    Câu 5 (trang 83 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Nhân vật Phan Bội Châu
    và ngôi nhà của cụ được miêu tả qua ngôi kể nào và điểm nhìn của
    ai? Ngôi kể và điểm nhìn ấy có ưu thế gì so với việc sử dụng các
    ngôi kể, điểm nhìn khác?
    Trả lời:
    - Ngôi kể: ngôi thứ ba hạn tri.
    - Điểm nhìn của nhân vật Tuấn.
    + Người kể chuyện ngôi thứ ba hạn tri tuy không có được khả năng
    biết tất cả, bao quát tất cả như ngôi thứ ba toàn trị, song khả năng
    bao quát hiện thực đời sống cũng cao hơn so với người kể chuyện
    ngôi thứ nhất. Đây là ngôi kể có thể tạo ra cái nhìn khách quan, xác
    thực cần phải có khi viết truyện kí, nhất là truyện kí lịch sử theo ý đồ
    nghệ thuật của Nguyễn Vỹ.
    + Điểm nhìn của nhân vật Tuấn là điểm nhìn của nhân chứng và có
    ưu thế nói thay tiếng nói của học sinh, sinh viên đương thời về cụ
    Phan Bội Châu và ảnh hưởng của cụ đối với lớp trẻ Việt Nam lúc
    bấy giờ. Đây là điều mà điểm nhìn của người kể chuyện ngôi thứ ba
    không có được.
    Câu 6 (trang 84 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Có thể xem nhân vật
    Phan Bội Châu và ngôi nhà tranh của cụ ở Bến Ngự được miêu tả
    trong văn bản là “chứng tích thời đại đầu thế kỉ XX” hay không? Vì
    sao?
    Trả lời:
    Nhân vật Phan Bội Châu và ngôi nhà tranh của cụ ở Bến Ngự đều
    có thể xem là “chứng tích của thời đại, vì:
    - Cụ là nhân vật có thật, gần với bối cảnh sự vật có thật, mang tính
    xác thực cao (có thể dễ dàng kiểm chứng); cuộc đời của cụ là biên
    niên sử đáng tin cậy.
    - Nhân vật Phan Bội Châu trong văn bản là chứng tích quan trọng
    gợi nhắc đời sống nhân cách của một nhân vật lịch sử, một giai
    đoạn lịch sử của đất nước.

    - Phan Bội Châu được miêu tả qua cái nhìn của các nhân chứng
    Tuấn và Quỳnh – hai thanh niên đương thời.
    Câu 7 (trang 84 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Từ việc đọc hiểu đoạn
    trích, bạn hãy nêu một số lưu ý về cách đọc văn bản thuộc thể loại
    truyện kí.
    Trả lời:
    Từ việc đọc hiểu đoạn trích, em có một số lưu ý về cách đọc văn
    bản thuộc thể loại truyện kí là:
    - Cần phải chú ý đến thời gian và địa điểm diễn ra các sự kiện.
    - Sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu nhưng cũng có thể sử dụng
    ngôn ngữ phức tạp, mang tính nghệ thuật cao.
    - Tìm hiểu về nhân vật chính và các nhân vật phụ, cảm nhận sự
    tương tác giữa các nhân vật để hiểu rõ hơn về câu chuyện.
    -…

    Soạn bài Tôi đã học tập như thế nào? - Chân trời sáng tạo
    * Chuẩn bị đọc
    Câu hỏi (trang 84 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Bạn đã học tập như thế
    nào trong những năm ở Tiểu học? Hãy hồi tưởng và chia sẻ với mọi
    người một kỉ niệm (vui/ buồn) về việc học tập của bạn trong quãng
    thời gian đó.
    Trả lời:
    - Trong những năm học Tiểu học, em đã học tập rất nghiêm túc,
    chăm chỉ để có thể đạt được nhiều điểm cao trong các kì thi.
    - Bản thân em đã cố gắng học tập và rèn luyện rất nhiều cho kì thi
    cuối học kì II, em thường xuyên làm bài tập về nhà học thuộc các
    đoạn văn, bài thơ… Cuối cùng trong bài kiểm tra em đã đạt điểm 10
    phần đọc và viết. Em cảm thấy rất vui mừng và hạnh phúc vì kết
    quả của mình.
    * Trải nghiệm cùng văn bản

    1. Liên hệ: Nếu ở vào tình huống bỗng nhiên được cảm thông,
    khích lệ như Pê-xcốp, bạn sẽ có cảm xúc giống hay khác với cảm
    xúc của nhân vật này?
    - Em sẽ cảm thấy ấm áp, vui vẻ vì gặp được người hiểu, đồng cảm
    và không nhìn nhận vào cái sai của mình mà thay vào đó là theo
    dõi, lắng nghe cả những ưu điểm của bản thân.
    2. Suy luận: Các câu hỏi của Đức Giám mục trong cuộc trò chuyện
    ở đoạn này có được Pê-xcốp đáp lại không? Những căn cứ nào
    giúp bạn nhận biết điều đó?
    - Các câu hỏi của Đức Giám mục trong cuộc trò chuyện ở đoạn này
    có được Pê-xcốp đáp lại.
    - Suy luận thông qua thoại của giám mục Cri-xan-phơ “...con cũng
    biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi
    không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy
    chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta
    biết nhiều đấy” hay “những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé?” .
    Thêm vào đó, qua chi tiết tác giả diễn tả “giám mục nói khi tôi dừng
    lại vì quên một câu thơ nào đó” …
    3. Theo dõi: Việc biết “đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn
    tuổi” có phải là một dấu chấm mốc quan trọng trên bước đường học
    tập, trưởng thành của Pê-xcốp không? Vì sao?
    - Nó là dấu mốc quan trọng của Pê-xcốp, vì: nhân vật đã khoe với
    người đọc một cách vô cùng tự hào “một cách có ý thức”, đồng thời,
    thông qua hoàn cảnh của nhân vật Pê-xcốp, mười tuổi phải “vào
    đời”, lăn lộn kiếm sống nhưng với ưu điểm học nhanh và ham học
    của cậu thì cậu đã vượt lên chính mình và biết đọc một cách có ý
    thức, đó là thành quả hết sức đáng tự hào của cậu. 
    4. Suy luận: Cụm từ “các bạn” trong đoạn văn này và đoạn kế tiếp
    cho thấy người kể chuyện đang hướng đến ai?
    - Cụm từ “các bạn” trong đoạn văn này và đoạn kết tiếp cho thấy
    người kể chuyện đang hướng người đọc. Bởi vì, qua nội dung đoạn
    này và đoạn kế tiếp, tác giả đã thoát ra khỏi kí ức để thuật lại, trình
    bày, chia sẻ về bản thân mình với người đọc.

    5. Suy luận: Trong đoạn này, Pê-xcốp đang nói đến phần “con thú”,
    phần “con người” vốn có của ai và với mục đích gì?
    - Trong đoạn này, Pê-xcốp đang nói đến phần “con thú”, phần “con
    người” vốn có của bản thân Pê-xcốp.
    - Với mục đích: chia sẻ, bộc bạch cảm xúc của mình với người đọc.
    Đồng thời ngầm đưa ra vai trò của mỗi cuốn sách trong việc hình
    thành và phát triển tư duy, nhân cách, con người ở mỗi chúng ta vì
    phần "con thú" biểu thị cho bản năng, sức mạnh và khát vọng sống,
    trong khi phần "con người" biểu thị cho tình yêu thương, đạo đức và
    sự cảm thông.
    * Suy ngẫm và phản hồi:
    Nội dung chính:
             Văn bản đề cập đến cậu bé Pê-xcốp mồ côi cha, sau khi
    chuyển trường và được Đức Giám mục Cri-xan phơ khích lệ cậu bé
    đã có ý thứ học tập và ham mê đọc sách. Đồng thời văn bản cũng
    thể hiện vai trò của tình yêu thương, nó giúp con người đi đúng
    hướng và trở nên tốt đẹp hơn.

    Câu 1 (trang 89 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Tóm tắt nội dung của văn
    bản.
    Trả lời:
    - Truyện do nhân vật chính thuật lại quá trình học tập của mình ở hai
    chặng đường đời nối tiếp nhau. Hồi 6 – 7 tuổi, cậu bé Pê-xcốp mồ
    côi cha, được gửi đến học ở một ngôi trường của nhà thờ. Do chán
    học, lại bị một số thầy giáo có ác cảm, nên cậu thường bày nhiều trò
    nghịch ngợm, tinh quái. Đến khi gặp Đức Giám mục Cri-xan phơ,
    được đức cha khích lệ, cậu mới bắt đầu có ý thức học tập thì lại có
    tang mẹ, gia cảnh khốn khó. 10 tuổi, cậu phải “vào đời” kiếm sống.
    Từ đây, nhất là từ năm 14 tuổi, nhờ không ngừng tự học hỏi trong

    cuộc sống và ham mê đọc sách, Pê-xcốp đã từng bước trưởng
    thành và về sau trở thành đại văn hào Nga: M. Go-rơ-ki.
    Câu 2 (trang 89 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Sự xuất hiện của Đức
    Giám mục và cuộc trò chuyện giữa ngài với Pê-xcốp cùng các học
    sinh trong lớp đã có tác động như thế nào đến Pê-xcốp? Bạn có
    nhận xét gì về cách tác giả thuật lại cuộc trò chuyện này?
    Trả lời:
    - Sự xuất hiện của Đức Giám mục và cuộc trò chuyện giữa ngài với
    Pe-xcốp cùng các học sinh trong lớp đã có tác động rất mạnh mẽ,
    sâu sắc đến Pe-xcốp. Pê-xcốp xem ngài là cứu tinh. Tình cảm, trí
    tuệ và thế giới tinh thần vốn phong phú, trong sáng của cậu bé được
    Đức Giám mục phát hiện, đánh thức và ghi nhận, biểu dương ngay
    trong lớp học trước các thầy giáo và bạn học. Pê-xcốp cũng tự phát
    hiện ra cái phần không phải “con thứ” trong chính mình.
    - Cách tác giả thuật lại cuộc trò chuyện giữa Đức Giám mục với Pêxcốp cùng các HS trong lớp có mấy điểm đáng lưu ý:
    + Tạo sự tương phản rõ rệt với những gì thường ngày diễn ra trước
    đó.
    + Nội dung cuộc trò chuyện thân tình, ấm áp, gần gũi do Đức Giám
    mục vừa trò chuyện với Pê-xcốp vừa với cả lớp.
    + Tác giả – người kể chuyện hầu như chỉ kể lại lời của Đức Giám
    mục nhưng vẫn giúp nghe được tiếng nói, tâm tình của Pê-xcốp và
    các học sinh cùng lớp với cậu bé.
    + Điểm nhìn của người kể chuyện ngôi thứ nhất hạn tri đã tạo ưu
    thế riêng làm cho hình tượng Đức Giám mục với Pê – xcốp cùng
    các HS trong lớp đều trở nên thân thiết nổi bật.
    Câu 3 (trang 89 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Bạn hiểu thế nào về phần
    “thú”, phần “người” và cuộc tranh đấu giữa hai phần này trong quan
    niệm của Pê-xcốp? Cách sử dụng ngôi kể, điểm nhìn trong văn bản
    đã có tác dụng gì trong việc thể hiện cuộc đấu tranh ấy?
    Trả lời:
    - Phần thú: phần non nớt, bản năng, hoang dã, thâm chí man rợ…

    - Phần người: phần cao quý, có được nhờ quá trình học tập, tu
    dưỡng. Ở đó có lẽ sống vươn tới tình thương yêu và khát vọng
    những điều gì tốt đẹp, xứng đáng với con người.
    - Giữa hai phần này luôn có đấu tranh: Nhờ học qua trường đời,
    cuộc sống cẩn lao và qua sách, Pê-xcốp hiểu ra sự đối lập và cuộc
    đấu tranh không dễ dàng giữa phần “thú” và phần “người”. Cậu luôn
    khao khát chiến thắng phần con thứ” trong bản thân, khao khát “tách
    khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc
    sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy”.
    - Con đường ấy được ví với việc bước dần lên những bậc thang
    như một quá trình rèn luyện lâu dài, không mệt mỏi; mỗi thành công
    chỉ là một bậc thang nhỏ nên cần phải nỗ lực vươn lên không
    ngừng.
    Câu 4 (trang 89 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Chỉ ra một số điểm khác
    nhau về nội dung và hình thức nghệ thuật giữa hai phần văn bản
    trước và sau câu “Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười
    bốn tuổi”. Những khác biệt như vậy có làm mất đi sự thống nhất
    trong tính chỉnh thể của tác phẩm không? Vì sao?
    Trả lời:
    Nội dung/ Phần trước
    hình thức

    Nội dung

    Thuật lại theo hồi ức vẽ những
    ngày tháng cậu bé Pê-xcốp học
    tập tại ngôi vừa kiếm sống vừa
    tự học trong sách trường của
    nhà thờ. Ban đầy cậu bé bày ra
    bao nhiêu trò tinh quái, man rợ.
    Chỉ đến khi có Đức Giám mục
    xuất hiện cậu mới chăm chỉ, chí
    thú với việc học hành.

    Phần sau
    Thuật lại những tháng năm
    Pê xcốp vừa kiếm sống vừa
    tự học trong sách vở và trong
    cuộc đời. Trải qua biết bao
    dằn vặt, băn khoăn, cuối
    cùng nhờ có sách và những
    nỗ lực đọc, khám phá của
    bản thân, Pê -xcốp đã trưởng
    thành.

    Hình
    thức Sử dụng nghệ thuật kể chuyện Sử dụng nghệ
    nghệ thuật hấp dẫn, gây ấn tượng mạnh: chuyện tổng hợp:

    thuật

    kể

    - Dùng nhiều mẩu chuyện, sự - Kết hợp kể chuyện với trữ

    việc kịch tính, bất ngờ.

    tình biểu cảm, luận bình (về
    vai trò, tác dụng của sách,
    – Sử dụng đối thoại, thủ pháp
    của trải nghiệm cuộc sống).
    đối lập.
    – Kết hợp độc thoại (tự nói
    - Tác giả vừa hoá thân vào
    với mình) và trò chuyện với
    nhân vật cậu bé mang điểm
    độc giả (“chính các bạn cũng
    nhìn, giọng điệu của một cậu
    biết...”; “Có thể tôi sẽ không
    bé vừa giữ một khoảng cách,
    truyền đạt đủ rõ và đáng tin
    một thái độ tự phê phán, tự
    cậy để các bạn thấy...).
    giễu mình.
    – Sử dụng nhiều ẩn dụ, tỉ dụ
    sâu sắc từ trải nghiệm đời
    sống, từ đọc sách mà có.
    - Về tính thống nhất “chỉnh thể" của tác phẩm, đọc kỉ sẽ thấy sự
    khác biệt trên không hể phá vỡ tính thống nhất chỉnh thể mà còn
    cho thấy sự đa dạng của các môi trường hoàn cảnh học tập; thấy rõ
    cuộc đấu tranh giữa phần “thử” và phần “người” ở các môi trường
    khác biệt; đặc biệt cho thấy việc học tập để đạt được thành công,
    vươn tới mục đích cao đẹp của đời người quả là quá trình không dễ
    dàng, nhưng hoàn toàn là có thể. Đó cũng là sự linh hoạt, đa dạng
    trong bút pháp tự truyện của M. Go rơ ki. 
    Câu 5 (trang 89 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Phân tích một số chi tiết
    trong văn bản cho thấy nhận thức của tác giả tại thời điểm viết tác
    phẩm và nhận thức của nhân vật chính trong quá khứ có những
    điểm khác biệt. Giải thích lí do của sự khác biệt ấy.
    Trả lời:
    Đúng là có một khoảng cách khá xa giữa hai thời điểm:
    – Các câu chuyện được kể lại là hồi ức – những sự việc, mẩu
    chuyện xảy ra đã lâu, vào khoảng từ những năm Pê-xcốp lên 6 – 7
    tuổi cho đến khi cậu trở thành một người lao động chín chắn, trưởng
    thành (ngoài 20 tuổi).
    - Thời điểm tác giả M. Go-rơ-ki viết Tôi đã học tập như thế nào là
    khoảng năm 1917 – 1918. Trước đó, ông đã viết Thời thơ ấu (năm
    1913 – 1914), Kiểm sống (năm 1915 – 1916). Tức là truyện Tôi đã

    học tập như thế nào được viết khi nhà văn đã ở tuổi 45 – 50 (ông
    sinh năm 1868). Khoảng cách giữa thời điểm xảy ra các sự việc với
    Pê-xốp ở ngôi trường của nhà thờ (năm 6 – 7 tuổi) và thời điểm nhà
    văn viết truyện ngắn là gần nửa thế kỉ.
    - Nhận thức của tác giả ở thời điểm viết tác phẩm tất nhiên sẽ khác
    nhiều so với nhận thức của nhân vật chính (tác giả hồi bé, thời trẻ).
    Muốn hiểu đúng cảm hứng, chủ đề, tư tưởng và thông điệp của tác
    phẩm, không thể không lưu ý đến điều này.
    - Quả vậy, trong văn bản có không ít chi tiết cho thấy khoảng cách
    thời gian, tuổi tác và nhận thức giữa người viết và nhân vật. Chẳng
    hạn ở phần đầu, từ thời điểm viết tác phẩm nhìn nhận lại sự việc
    cách hành xử của cậu bé, tuy nhập vai nhưng người kể chuyện vẫn
    hé mở khoảng cách.
    - Còn ở phần sau, nhận thức của tác giả về sách, cuộc đời, con
    người càng lúc càng rõ hơn, chín hơn, gắn chân lí hơn và cũng gần
    với nhận thức của tác giả tại thời điểm viết tác phẩm hơn.
    Câu 6 (trang 89 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Phân tích một số chi tiết
    để làm rõ ý nghĩa của những trải nghiệm thực tế đời sống và tầm
    quan trọng của việc tự học qua sách đối với nhân vật Pê-xcốp.
    Trả lời:
    - Một số chi tiết trong văn bản thể hiện ý nghĩa của những trải
    nghiệm thực tế đời sống nhân vật Pê-xcốp:
    + “..cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người
    đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau,
    thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ”
    + “tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra
    trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa”
    + “...có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó
    an ủi tôi phần nào….”
    + “...có những người không biết sống một cách vui thú và sung
    sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như vậy”

    - Một số chi tiết trong văn bản thể hiện tầm quan trọng của việc tự
    học qua sách đối với nhân vật Pê-xcốp:
    + “...làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng
    trở nên rực rỡ có ý nghĩa”
    + “...lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm
    tình”
    + “.. trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lý hơn và
    ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống”
    + “.... đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần
    quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống
    ấy”.
    → Có thể thấy, việc tự học qua sách đóng một vai trò vô cùng ý
    nghĩa trong việc hình thành và phát triển nhân cách của nhân vật,
    sách đã làm thay đổi một cậu bé nghịch ngợm, bồng bột, thiếu chín
    chắn, mải chơi thành một người có ích hơn, sống cảm thông và biết
    chia sẻ, có những suy nghĩ sâu xa, đứng đắn.
    Bài tập sáng tạo (trang 89 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Hãy viết đoạn
    văn khoảng 200 chữ về một cuốn sách hoặc một tác phẩm
    nghệ thuật góp phần thay đổi suy nghĩ của bạn.
    Trả lời:
    Sách là người bạn cũng như người thầy thân thiết của mỗi chúng ta.
    Ngay từ khi còn nhỏ em đã được bố mẹ cũng như thầy cô truyền
    cảm hứng về việc yêu sách và thói quen đọc sách. Chính vì vậy em
    đã đọc được rất nhiều điều bổ ích, thú vị cũng như những câu
    chuyện cảm động đến từ những cuốn sách hay. Một trong số các
    cuốn sách mà em rất thích là cuốn “Hachiko chú chó đợi chờ”. Em
    được biết cuốn sách này đã được dựng thành phim và nội dung câu
    chuyện trên phim cũng rất cảm động, để lại cho người xem rất nhiều
    cảm xúc sâu lắng. Tác giả của cuốn sách là Luis Prats (nằm trong
    danh mục sách của tổ chức Thư viện Thanh thiếu niên quốc tế).
    Trang bìa cuốn sách chính là hình vẽ minh họa về chú chó Hachiko,
    Hachiko là một giống chó akita của Nhật Bản. Với cách trình diễn
    bằng thuốc nước rất đẹp vững chắc sẽ đọng lại trong người đọc
    những sắc màu khó phai. Cuốn sách kể về cuộc sống và tình cảm,

    sự trung thành của chú chó Hachiko dành cho người chủ của mình.
    Giáo sư Eisaburo Ueno là chủ của Hachiko, lúc chủ còn sống,
    Hachiko hàng ngày theo ông tới nhà ga tiễn ông đi làm, đều đặn 5
    giờ chiều lại tới nhà ga đón ông trở về. Nhưng rồi giáo sư nhắm mắt
    xuôi tay, Hachiko thì không biết điều đó, chú chó vẫn làm mướn việc
    của mình, chờ chủ trong mòn mỏi bất kể mưa nắng ko thiếu một
    ngày nào trong suốt 10 năm. Sự trung thành của chú chó khiến
    Hachiko trở thành biểu tượng cho lòng trung thành ở tổ quốc Nhật
    Bản, trở thành chú chó nổi tiếng nhất toàn cầu. Từng câu chuyện
    của Hachiko khiến con tim em lay động, những hàng nước mắt vẫn
    ko thể kìm được mỗi lần đọc sách. Em tin dù là người mạnh mẽ tới
    đâu cũng sẽ phải rung động lúc đọc cuốn sách này. Sau lúc đọc
    cuốn sách em đã nuôi một chú chó, em rất yêu quý nó và cũng đặt
    cho nó cái tên Hachiko, tới nay chú chó đã gần 5 tuổi.

    Soạn bài Nhớ con sông quê hương - Chân trời sáng tạo
    * Suy ngẫm và phản hồi:
    Nội dung chính:
    Văn bản thể hiện vẻ đẹp của dòng sông quê hương xanh biếc. Đồng
    thời cũng thể hiện sự yêu quý và kính trọng đối với con sông đã gắn
    bó và chứng kiến bao vất vả, gian lao với người dân với quá khứ
    oanh liệt của con người nơi đây.

    Câu 1 (trang 92 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Xác định chủ thể trữ tình
    và tình cảm, cảm xúc được tác giả thể hiện trong đoạn thơ trên.
    Trả lời:

    - Chủ thể trữ tình: Chủ thể xưng “tôi”, “chúng tôi” – người lưu giữ kí
    ức gắn bó với con sông quê hương từ thời thơ ấu cho đến lúc
    trưởng thành, sống xa quê.
    - Tình cảm, cảm xúc được thể hiện trong VB thơ là tình yêu mến và
    niềm thương nhớ quê hương qua hình ảnh con sống của một người
    con xa quê. Tình cảm, cảm xúc ấy thể hiện qua việc các hình ảnh,
    từ ngữ miêu tả, gợi nhắc kỉ niệm trìu mến, thiết tha về con sông qua
    những câu thơ chứa chan cảm xúc: Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi!
    hoặc Tôi giơ tay ôm nước vào lòng! Sông mở nước ôm tôi vào dạ.
    Câu 2 (trang 92 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Bạn có cảm nhận thế nào
    về hình ảnh con sông quê hương trong đoạn thơ?
    Trả lời:
    - Cảm nhận về hình ảnh con sông quê hương trong đoạn thơ ở mỗi
    HS có thể rất riêng biệt, nhưng vẫn có thể có một vài nét chung như:
    trong sáng, thần thương, sống động, không thể phai mờ vào tâm trí
    trẻ thơ; có những dòng thơ miêu tả thật hay:
    Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu
    Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy
    Bạn bè tôi tiệm năm tụm bảy
    Bầy chim non bơi lội trên sông
    Hình ảnh con sông quê hương ấy càng đẹp khi được miêu tả qua
    nỗi nhớ và tình yêu thiết tha của chủ thể trữ tình.
    Câu 3 (trang 92 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Nêu tác dụng của yếu tố
    tự sự được sử dụng trong đoạn thơ.
    Trả lời:
    - Yếu tố tự sự được thể hiện đan xen với trữ tình; có những dòng tự
    sự, gợi nhắc thời gian, sự việc theo lối tự thuật:
    Chúng tôi lớn lên mỗi người mỗi ngả
    Kẻ sớm khuya chài lưới bên sông
    Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng

    Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến
    - Tác dụng của các dòng thơ mang yếu tố tự sự là gắn kết các mốc
    thời gian, sự việc với nhau theo một trình tự nương theo dòng chảy
    thời gian cuộc đời. Yếu tố tự sự gắn với việc bộc lộ tình cảm, cảm
    xúc, cho thấy tình yêu và nỗi nhớ con sông quê không nguôi, cứ lớn
    thêm, sầu thêm theo năm tháng, cuộc đời.
    Câu 4 (trang 92 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Theo bạn, kí ức tuổi thơ
    có vai trò như thế nào trong việc nuôi dưỡng tình yêu quê hương
    của mỗi người?
    Trả lời:
    - Kí ức tuổi thơ là những trải nghiệm những ấn tượng đầu tiên đẹp
    đẽ về quê hương.  Nó giúp ta gắn liền với những hình ảnh đẹp,
    những cảm xúc ngọt ngào và ấm áp, và làm cho tình yêu quê
    hương trong ta trở nên mãnh liệt hơn.
    - Đồng thời nó giúp ta hiểu hơn về giá trị của quê hương và sự quan
    trọng của việc bảo vệ, phát triển quê hương.
    -…
    Xem thêm các bài Soạn văn lớp 11 Chân trời sáng tạo hay nhất,
    ngắn gọn khác:

    Soạn bài Thực hành tiếng Việt trang 92 Tập 2 - Chân trời
    sáng tạo
    Câu 1 (trang 92 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Xác định lỗi thành phần
    câu trong các trường hợp sau và nêu cách sửa:
    a. Qua văn bản “Ngôi nhà tranh của cụ Phan Bội Châu ở Bến Ngự"
    cho thấy ngay cả khi bị thực dân Pháp giam lỏng ở Huế, cụ Phan
    Bội Châu vẫn luôn được thanh niên học sinh và các tầng lớp nhân
    dân ta rất mực yêu mến và ngưỡng mộ.
    b. Lòng tin của cụ Phan Bội Châu vào lớp thanh niên học sinh như
    Tuấn, Quỳnh sẽ tiếp bước các chí sĩ ái quốc như cụ.

    c. Bằng tình cảm yêu nước, khát vọng duy tân và sự bôn ba tranh
    đấu cho mục tiêu dân tộc tự cường của cụ Phan Bội Châu đã trở
    thành tấm gương cao đẹp cho đồng bào khắp ba miền Bắc Trung
    Nam và thế hệ thanh niên học sinh...
     
    Gửi ý kiến