Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên GD&ĐT Đắc Lắk.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Giáo án tổng hợp

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thùy Linh
Ngày gửi: 19h:54' 29-09-2024
Dung lượng: 177.8 KB
Số lượt tải: 102
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thùy Linh
Ngày gửi: 19h:54' 29-09-2024
Dung lượng: 177.8 KB
Số lượt tải: 102
Số lượt thích:
0 người
PHẦN 1 KIẾN THỨC TRỌNG TÂM
Chủ đề 1: LỊCH SỬ VÀ SỬ HỌC
I. HIỆN THỰC LỊCH SỬ VÀ NHẬN THỨC LỊCH SỬ
1. Khái niệm “lịch sử”, tính khách quan của hiện thực và nhận thức lịch sử
a. Khái niệm “lịch sử”
- Lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ của xã hội loài người.
- Lịch sử là những câu chuyện về quá khứ hoặc tác phẩm ghi chép về quá khứ.
- Lịch sử là một khoa học (còn gọi là Sử học) nghiên cứu về quá khứ của con người.
- Khoa học lịch sử nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng đã diễn ra trong xã lội loài người và phát
hiện ra quy luật phát sinh, phát triển của nó.
- Khái niệm lịch sử gắn liền với hai yếu tố cơ bản là hiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử.
+ Hiện thực lịch sử: Là toàn bộ những gì đã diễn ra trong quá khứ, tồn tại một cách khách quan,
không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người (người nhận thức).
Ví dụ: Năm 938, Ngô Quyền chiến thắng oanh liệt quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, kết thúc
nỗi đau mất nước hơn mười thế kỷ, mở ra một kỷ nguyên mới, đưa dân tộc ta tiến vào thời kì xây
dựng và bảo vệ quốc gia phong kiến độc lập. Đó là một hiện thực lịch sử (sự thật, khách quan).
+ Nhận thức lịch sử: là toàn bộ những tri thức, hiểu biết, những ý niệm và hình dung của con người
về quá khứ (nhận thức về sự việc đã xảy ra).
Ví dụ: Khi đánh giá về nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam,
đa số điểm cho rằng, nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là nhờ điều kiện
chủ quan và khách quan thuận lợi. Về chủ quan, , dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã chuẩn
bị 15 năm (1930 - 1945), khi thời cơ xuất hiện, Đảng ta đã phát động quần chúng nhân dân chớp
thời cơ tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc. Về khách quan, đến giữa tháng 8 1945, phát xít Nhật bị Đồng minh đánh bại đã tạo điều kiện cho Cách mạng tháng Tám giành được
thắng lợi nhanh chóng, ít đổ máu. Trong đó, nguyên nhân chủ quan đóng vai trò quyết định.
Tuy nhiên, có một số quan điểm của giới học giả tư sản lại cho rằng Cách mạng tháng Tám năm
1945 giành được thắng lợi là một sự ăn may, trống vắng quyền lực. Đây là nhận định sai lầm về
lịch sử.
+ Khái niệm “Sử học”:
Sử học là một khoa học nghiên cứu về quá khứ của con người. Khoa học lịch sử nghiên cứu về các
sự kiện, hiện tượng đã diễn ra trong xã hội loài người và phát hiện ra quy luật phát sinh, phát triển
của nó.
b. Tính khách quan của hiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử
Hiện thực lịch sử có trước, nhận thức lịch sử có sau. Hiện thực lịch sử là duy nhất và không thể
thay đổi. Hiện thực lịch sử luôn khách quan, không phụ thuộc nhận thức của con người.
- Nhận thức lịch sử rất đa dạng và có thể thay đổi theo thời gian và nhận thức của con người. Nhận
thức lịch sử vừa có tỉnh khách quan, vừa mang tính chủ quan của mỗi người. Sở dĩ nhận thức lịch
sử có tính chủ quan là do mục đích nghiên cứu, nguồn sử liệu, quan điểm tiếp cận, phương pháp
nghiên cứu,...
2. Đối tượng nghiên cứu của Sử học. Chức năng và nhiệm vụ của Sử học
* Đối tượng nghiên cứu của Sử học:
- Là toàn bộ những hoạt động của con người (cá nhân, tổ chức, cộng đồng quốc gia hoặc khu
vực,...) trong quá khứ, diễn ra trên mọi lĩnh vực, như chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, quân sự,
ngoại giao,.. - Đối tượng nghiên cứu của Sử học xuất hiện từ khi con người biết ghi chép lịch sử,
nhưng trong xã hội có giai cấp, quan niệm về đối tượng của Sử học lại khác biệt.
1
+ Sử học phương Đông thời kì cổ trung đại chủ yếu ghi chép về hoạt động của vua, quan, triều
đình. + Sử học mác-xít nghiên cứu về những hoạt động của con người trên tất cả các mặt, như kinh
tế, chính trị, văn hoá, quân sự,...
Như vậy, mục tiêu chính của Sử học không chỉ đơn giản là ghi lại các sự kiện và hành động, mà là
cố gắng hiểu các tình huống trong quá khứ và bối cảnh cũng như nguyên nhân của chúng, để hiểu
rõ hơn về hiện tại.
* Các chức năng của Sử học:
- Chức năng khoa học: khôi phục hiện thực lịch sử thật chính xác, khách quan.
Chức năng xã hội: phục vụ cuộc sống của con người hiện tại thông qua những bài học kinh nghiệm
được đúc kết từ quá khứ.
* Nhiệm vụ của Sử học:
- Trang bị tri thức khoa học, đó những tri thức đã được khoa học lịch sử thừa nhận, giúp con người
hiểu đúng quá khứ.
- Giáo dục, nêu gương bằng cách hướng tới những phẩm chất, giá trị tốt đẹp, tiến bộ và nhân văn.
3. Các nguyên tắc cơ bản của Sử học. Ý nghĩa của việc nắm vững các nguyên tắc cơ bản của Sử
học
* Các nguyên tắc cơ bản của Sử học:
- Nguyên tắc khách quan: khi nghiên cứu, tìm hiểu các sự kiện lịch sử phải dựa vào các nguồn sử
liệu, phải khôi phục lại hiện thực lịch sử một cách khách quan, không nhận thức phiến diện, một
chiều, không theo ý kiến chủ quan.
- Nguyên tắc trung thực: nhà sử học cần trung thực, tôn trọng những gì đã diễn ra, không xuyên
tạc, thêm bớt hoặc làm sai lệch hiện thực lịch sử.
- Nguyên tắc tiến bộ: từ thấu hiểu quá khứ, sử học hướng đến phục vụ cuộc sống con người, góp
phần xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ.
* Ý nghĩa của các nguyên tắc cơ bản:
- Định hướng việc nghiên cứu cho nhà sử học: bám sát mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp nghiên
cứu,...
- Giúp nhà sử học hiểu rõ sứ mệnh, trách nhiệm, đạo đức của người viết.
- Phê phán các quan điểm sai trái, bảo vệ lẽ phải, ủng hộ quan điểm khoa học tiến bộ và nhân văn.
4. Các nguồn sử liệu
* Các nguồn sử liệu:
- Là thông tin về hoạt động của con người trong quá khứ được lưu giữ ở nhiều dạng khác nhau, gọi
là nguồn sử liệu.Nếu không có sửliệu, nhà sử học không thể khôi phục được hiện thực lịch sử.
- Có hai nguồn sử liệu cơ bản: Căn cứ vào mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng được nghiên cứu
và giá trị của thông tin, sử liệu được chia làm hai nguồn cơ bản: sử liệu sơ cấp và sử liệu thứ cấp.
+ Nguồn sử liệu sơ cấp: là sử liệu được tạo ra đầu tiên, gần nhất hoặc gắn liền với thời gian xuất
hiện của các sự kiện, hiện tượng được nghiên cứu, như hồ sơ, văn kiện, nhật kí, ảnh chụp, đoạn
băng hình, hiện vật gốc,... Nguồn sử liệu sơ cấp được coi là bằng chứng quan trọng nhất của nhà sử
học khi miêu tả, phục dựng lại quá khứ.
+ Nguồn sử liệu thứ cấp: là sử liệu được tạo ra sau thời điểm xuất hiện của các sự vật, hiện tượng
được nghiên cứu, thường là những công trình, tác phẩm, bài báo nghiên cứu về hiện thực lịch sử.
Nguồn sử liệu thứ cấp được coi là tài liệu tham khảo (đã thông qua quan điểm tiếp cận, nhận thức
của con người).
5. Các loại hình sử liệu cơ bản
- Sử liệu lời nói - truyền khẩu: là nguồn sử liệu thông qua lời nói, truyền khẩu, gồm những câu
chuyện truyền thuyết, cổ tích, giai thoại,... được lưu truyền từ đời này qua đời khác hoặc những lời
2
kể của nhân chứng lịch sử. Trong thời kì chưa có chữ viết, sử liệu truyền khẩu là một nguồn thông
tin để tìm hiểu lịch sử.
- Sử liệu hiện vật: là nguồn sử liệu vật thể do con người tạo tác, gồm các di tích, công trình hoặc đồ
vật cụ thể.
- Sử liệu hình ảnh: là nguồn sử liệu phản ánh về quá khứ thông qua tư liệu hình ảnh, gồm tranh,
ảnh, băng hình,...
- Sử liệu thành văn: là nguồn sử liệu bằng chữ viết, như sách, báo, bản ghi chép, nhật ký, hiệp ước,
hiệp định,...
6. Các phương pháp cơ bản của Sử học
* Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp lịch sử: tìm hiểu, khôi phục, mô tả các sự kiện, hiện tượng (về quá trình ra đời, phát
triển và suy vong), gắn với bối cảnh lịch sử cụ the,...
- Phương pháp lôgic: tìm hiểu lịch sử trong hình thức tổng quát để tìm ra các đặc điểm chung, bản
chất, quy luật, mối quan hệ nhân - quả của lịch sử...
* Phương pháp trình bày:
- Phương pháp lịch đại: trình bày lịch sử theo thời gian trước - sau (mối liên hệ dọc), giúp người
đọc thấy được tiến trình của lịch sử.
- Phương pháp đồng đại: trình bày lịch sử theo không gian ở cùng giai đoạn (mối liên hệ ngang),
giúp người đọc thấy được ở cùng một thời điểm có những sự kiện nào.
* Phương pháp tiếp cận: phương pháp tiếp cận liên ngành của Sử học khai thác thông tin của nhiều
ngành khoa học (Khảo cổ học, Dân tộc học, Văn hóa học,...) để làm sáng tỏ các sự kiện, hiện
tượng lịch sử có liên quan.
Tuỳ thuộc vào mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu hoặc trình bày thông tin lịch sử,... nhà sử
học sẽ lựa chọn các phương pháp cụ thể. Tuy nhiên, phương pháp mô tả lịch sử (phương pháp lịch
sử) và phương pháp tìm ra đặc điểm khái quát chung (phương pháp lôgic) vẫn là các phương pháp
chủ đạo.
II. TRI THỨC LỊCH SỬ VÀ CUỘC SỐNG
1. Vai trò và ý nghĩa của tri thức lịch sử. Liên hệ với nhận thức của người Việt Nam
*Vai trò:
- Tri thức lịch sử trang bị những hiểu biết về quá khứ cho cá nhân và xã hội.
- Tri thức lịch sử góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa của các cộng đồng.
- Tri thức lịch sử là cơ sở để các cộng đồng cùng chung sống và phát triển bền vững.
* Ý nghĩa:
- Giúp con người nhận thức sâu sắc về cội nguồn, về bản sắc của cá nhân và cộng đồng trong mọi
thời đại, từ đó giúp con người hiểu biết chính mình và thế giới.
- Là nền tảng để tồn tại, giữ gìn và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa cộng đồng và chung sống
trong một thế giới đa dạng.
- Giúp con người có thể dự báo chính xác về thời cơ và nguy cơ trong tương lai hoặc thấy được
chiều hướng vận động, phát triển của hiện tại.
* Liên hệ với nhận thức của người Việt Nam:
- Để hiểu biết lịch sử nói chung và lịch sử Việt Nam nói riêng, mỗi người Việt Nam cần phải có tri
thức về lịch sử, bởi vì:
+ Có tri thức lịch sử mỗi người mới hiểu biết về các lĩnh vực liên quan đến lịch sử. Muốn vậy, mỗi
người cần phải học tập, khám phá, nghiên cứu và trải nghiệm về lịch sử.
+ Tri thức lịch sử có vai trò quan trọng đối với cá nhân và xã hội. Bởi vì, tri thức lịch sử trang bị
những hiểu biết về quá khứ cho cá nhân và xã hội. Tri thức lịch sử góp phần bảo tồn và phát huy
3
các giá trị lịch sử, văn hóa của các cộng đồng. Tri thức lịch sử là cơ sở để các cộng đồng cùng
chung sống và phát triển bền vững.
- Ngoài ra, tri thức lịch sử có ý nghĩa quan trọng, giúp con người nhận thức sâu sắc về cội nguồn,
về bản sắc của cá nhân và cộng đồng trong mọi thời đại.
Nhờ có tri thức lịch sử, con người có thể đúc kết và vận dụng thành công nhiều bài học kinh
nghiệm trong cuộc sống, tránh lặp lại những sai lầm từ quá khứ.
- Trên cơ sở những hiểu biết đúng và đầy đủ về quá trình lịch sử, tri thức lịch sử còn giúp con
người có thể dự báo chính xác về thời cơ và nguy cơ trong tương lai, hoặc thay đổi được chiều
hướng vận động, phát triển của hiện tại.
2. Học tập và khám phá lịch sử suốt đời
* Sự cần thiết phải học tập lịch sử suốt đời:
- Tri thức lịch sử rất rộng lớn và đa dạng. Những kiến thức lịch sử ở nhà trường chỉ là một phần
nhỏ trong kho tàng lịch sử quốc gia, nhân loại. Muốn hiểu đầy đủ và đúng đắn về lịch sử cần có
một quá trình lâu dài.
- Tri thức về lịch sử biến đổi và phát triển không ngừng, gắn liền với sự xuất hiện của các nguồng
liệu mới, những quan điểm và nhận thức mới, lĩnh vực nghiên cứu mới,... Do vậy, những nhận
thức về sự kiện, hiện tượng lịch sử của con người hôm nay rất có thể sẽ thay đổi trong tương lai,...
- Cùng với tìm hiểu tri thức, việc học tập lịch sử suốt đời sẽ giúp mọi người mở rộng và cập nhật
vốn kiến thức, hoàn thiện và phát triển kĩ năng xây dựng sự tự tin, thích ứng với những thay đổi
nhanh chóng của xã hội, tạo ra những cơ hội mới trong cuộc sống và nghề nghiệp.
* Kết nối tri thức lịch sử với đời sống đương đại:
Kiến thức lịch sử là những hiểu biết về các sự kiện, hiện tượng lịch sử diễn ra trong quá khứ. Còn
đời sống đương đại là những gì diễn ra trong thời đại mà chúng ta đang sống, đang chứng kiến.
- Sử dụng tri thức lịch sử và thông qua tri thức lịch sử sẽ giúp con người giải thích, hiểu rõ hơn
những vấn đề thời sự trong nước và quốc tế, những vấn đề thực tiễn cuộc sống hiện nay.
- Hiện tại luôn khởi nguồn từ quá khứ. Những vấn đề thời sự và thực tiễn hôm nay không phải xuất
hiện một cách ngẫu nhiên mà đều ít nhiều xuất phát từ những gì diễn ra trong quá khứ, là kết quả
của quả trình hình thành, phát triển và biến đổi qua thời gian.
- Việc nhận thức đầy đủ và toàn diện về những vấn đề đương đại không thể tách rời tri thức lịch sử
liên quan trong quá khứ. Kết nối kiến thức, bài học lịch sử vào cuộc sống chính là sử dụng tri thức
lịch sử để giải thích và hiểu rõ hơn những vấn đề của cuộc sống hiện tại, là việc nhìn nhận về cuộc
sống hôm nay từ quan điểm lịch sử.
Như vậy, tri thức lịch sử có giá trị lớn đối với mỗi cá nhân và xã hội, có mối liên hệ chặt chẽ với
nhiều lĩnh vực của cuộc sống, như chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, môi trường... Chính vì vậy,
nhiều nhà chính trị, nhà văn hóa, sử học nổi tiếng trên thế giới và trong nước đã khẳng định sự cần
thiết phải đưa kiến thức lịch sử vào cuộc sống.
3. Tìm hiểu quá khứ và làm giàu tri thức lịch sử
- Để tìm hiểu quá khứ và làm giàu tri thức lịch sử, cần phải dựa vào các nguồn sử liệu từ quá khứ.
Sử liệu đóng vai trò là cầu nối giữa hiện thực lịch sử và tri thức lịch sử.
- Khi dựa vào nguồn sử liệu từ quá khứ, cần phải thu thập, xử lí thông tin về sử liệu. Đây là những
khả năng quan trọng trong nghiên cứu cũng như học tập, tìm hiểu lịch sử.
- Thu thập sử liệu là quá trình khảo sát, tìm kiếm, sưu tầm và tập hợp những thông tin liên quan
đến đối tượng học tập, nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử.
- Những thông tin này bao gồm các nguồn sử liệu sơ cấp và thứ cấp; các loại hình sử liệu như lời
nói - truyền khẩu, hiện vật, hình ảnh, thành văn,... hoặc có thể thực hiện bằng phỏng vấn, sử dụng
bảng hỏi, khảo sát, quan sát, điền dã,...
4
- Xử lý thông tin và sử liệu:
+ Là quá trình phân loại, đánh giá, thẩm định nguồn sử liệu đã thu thập được.
+ Xác định tính xác thực, độ tin cậy và giá trị thông tin của các nguồn sử liệu đối với việc học tập,
nghiên cứu và tìm hiểu lịch sử.
Chủ đề 2: VAI TRÒ CỦA SỬ HỌC
I. SỬ HỌC VỚI CÁC LĨNH VỰC KHOA HỌC KHÁC
1. Sử học là một môn khoa học mang tính liên ngành
- Để phục dựng được hoạt động của con người trong quá khứ, Sử học cần kết hợp nhiều phương
pháp nghiên cứu như: phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, phương pháp xử lý sử liệu (phân
tích, tổng hợp), phương pháp điền dã,... Muốn thực hiện các phương pháp đó có hiệu quả, cần phải
có các ngành khác tham gia.
Sử học khai thác tri thức của nhiều ngành khoa học có liên quan, đặc biệt là khoa học xã hội
và nhân văn như: Địa lí học, Tôn giáo học, Văn học, Nhân học,...
- Nhà sử học không thể miêu tả, phục dựng lại một cách đầy đủ, toàn diện bức tranh về quá khứ
nếu chỉ sử dụng những tri thức hoặc các phương pháp lịch sử đơn thuần.
- Một số đối tượng hoặc chủ đề nghiên cứu đòi hỏi nhà sử học cần có một nền tảng kiến thức vững
chắc về lĩnh vực đó trước khi nghiên cứu chuyên sâu, tư liệu lịch sử kinh tế, lịch sử nghệ thuật, lịch
sử tôn giáo...
2. Mối liên hệ giữa Sử học với các ngành khoa học xã hội và nhân văn
* Sử học với các ngành khoa học xã hội và nhân văn:
- Sử học có vị trí, vai trò quan trọng và nổi bật trong số các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Sự
hình thành, phát triển của các ngành khoa học xã hội và nhân văn luôn có sự kết nối và gắn liền với
tri thức lịch sử.
- Sự tồn tại và phát triển của Sử học không thể biệt lập và tách rời với các ngành khoa học xã hội
và nhân văn.
- Tri thức về lịch sử luôn đóng vai trò là một trong những nguồn tri thức nền tảng đối với khoa học
xã hội và nhân văn ở mọi lĩnh vực.
Sử học cung cấp những tri thức về bối cảnh, nội dung, tác động, ý nghĩa,... để làm rõ hơn lịch sử
hình thành và phát triển của các ngành.
- Trong số các ngành khoa học xã hội và nhân văn, Sử học có mối liên hệ đặc biệt gần gũi với
Khảo cổ học, Nhân học, Văn học, Địa lí học, Triết học,... Trong nhiều trường hợp, mối liên hệ Văn
- Sử, Sử - Địa, Sử - Triết có sự gắn kết và giao thoa không thể tách rời.
* Các ngành khoa học xã hội và nhân văn đối với Sử học:
- Trong quá trình nghiên cứu lịch sử, nhà sử học thường xuyên khai thác, sử dụng tri thức của các
ngành khoa học khác, như Khảo cổ học, Địa lí học, Văn học, Xã hội học, Nhân học, Tôn giáo
học,... - Những thông tin của các ngành khoa học xã hội và nhân văn hỗ trợ Sử học tìm hiểu và
nghiên cứu lịch sử một cách toàn diện hơn, cụ thể và chính xác hơn.
- Mối liên hệ giữa Sử học với các ngành khoa học xã hội và nhân văn là mối liên hệ gắn bó, hỗ và
ngày càng quan trọng trong xu thế phát triển liên ngành, đa ngành của các lĩnh vực khoa tương học
ngày nay.
3. Mối liên hệ giữa Sử học với các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ
* Sử học với các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ:
- Mọi ngành khoa học tự nhiên và công nghệ đều có lịch sử.
- Muốn biết được lịch sử phát triển của ngành như thế nào (về sự ra đời, các chặng đường phát
triển, đặc điểm và thành tựu nổi bật, sự tác động của các phát minh, sáng chế đối với cuộc sống..),
người ta cần đến sự hỗ trợ của Sử học.
5
- Sử học phản ánh các cuộc cách mạng công nghiệp:
+Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (1.0) ra đời vào cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX. Đặc
trưng cơ bản là: sản xuất cơ giới hóa, tạo ra máy móc chạy bằng hơi nước.
+ Cách mạng công nghiệp lần thứ hai (2.0) ra đời vào cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Đặc trưng
cơ bản là: điện khí hóa và sản xuất hàng loạt; phát triển các nhà máy dây chuyền.
+Cách mạng công nghiệp lần thứ ba (3.0) ra đời vào nửa sau thế kỉ XX. Đặc trưng cơ bản là: số
hóa và tự động hóa, áp dụng điện tử, công nghệ thông tin vào sản xuất.
+Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) ra đời vào đầu thế kỉ XXI. Đặc trưng cơ bản là: Hệ thống
sản xuất thông minh, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, dữ liệu lớn.
* Các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ đối với Sử học:
- Các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ giúp Sử học trong quá trình sưu tầm, tìm kiếm sử
liệu, nghiên cứu, tìm hiểu, tái hiện quá khứ.
Các lĩnh vực như Vật lí, Hoá học, Sinh học, Địa lí tự nhiên, Thiên văn học, Toán học, Tin học,...
cung cấp dữ liệu rộng lớn và đa dạng cho các nhà sử học.
- Khoa học tự nhiên và công nghệ giúp Sử học miêu tả, trình bày lịch sử một cách toàn diện, cụ thể
và chính xác hơn.
- Địa lí tự nhiên cung cấp những dữ liệu để các nhà sử học nghiên cứu về lịch sử khu vực, vùng
miền hoặc các sự kiện, hiện tượng lịch sử như: địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, tài nguyên.
- Thiên văn học cung cấp những tri thức cơ bản để nhà sử học khám phá về quá trình làm ra lịch sử
và cách tính thời gian của con người trong lịch sử.
- Toán học với các phương pháp phân tích định lượng, thống kê, chọn mẫu,... được nhà sử học sử
dụng khi xử lí số liệu làm cơ sở cho các nhận xét, kết luận....
II. SỬ HỌC VỚI MỘT SỐ LĨNH VỰC, NGÀNH NGHỀ HIỆN ĐẠI
1. Sử học với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá, di sản thiên
* Di sản văn hóa và di sản thiên nhiên:
- Di sản văn hóa: Là di sản các hiện vật, vật thể và thuộc tính phi vật thể của một nhóm hay
xã hội được kế thừa từ thế hệ trước, đã duy trì đến ngày nay và dành cho các thế hệ mai sau.
+ Các di sản văn hóa vật thể như: Quần thể di tích Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa My
Son,...
+ Các di sản văn hóa phi vật thể như: Nhã nhạc cung đình Huế, Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Hát
Xoan Phú Thọ, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Đờn ca Tài tử Nam Bộ,...
+Các di sản tư liệu như: Mộc bản triều Nguyễn, Bia Tiến sĩ Văn Miếu - Quốc Tử Giảm, Mộc bản
kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm,..
+ Di sản văn hóa hỗn hợp như: Quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình).
- Di sản thiên nhiên: Bao gồm cảnh quan có tính văn hóa quan trọng và đa dạng sinh học.
Các di sản thiên nhiên như: Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
(Quảng Bình), Cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang),
* Sử học với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá, di sản thiên nhiên:
- Di sản văn hoá và di sản thiên nhiên là một bộ phận của lịch sử, được lưu giữ trong hiện tại Sử
học.
- Di sản văn hoá, di sản thiên nhiên có mối quan hệ gắn bó mật thiết với Sử học.
+ Các loại hình di sản văn hoá là nguồn sử liệu quan trọng đặc biệt đối với nghiên cứu lịch sử.
6
+ Việc bảo tồn di sản là cơ sở để nhà sử học có thể miêu tả, trình bày lịch sử quá khứ một cách
chính xác.
- Sử học tự nghiên cứu về lịch sử hình thành, phát triển của di sản văn hoá, di sản thiên nhiên, xác
định vị trí, vai trò và ý nghĩa của các di sản đối với cộng đồng.
- Sử học cung cấp những thông tin có giá trị và tin cậy liên quan đến di sản văn hóa, di sản thiên
nhiên, làm cơ sở cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị của di sản. - Giáo dục thế hệ trẻ, bảo vệ sự đa dạng văn hoá và đa dạng sinh học trên toàn cầu.
- Xác định giá trị của các di sản văn hoá, di sản thiên nhiên cần bảo tồn, đề xuất những hình thức,
phương pháp bảo tồn bền vững, hiệu quả.
- Tăng cường công tác bảo tồn giúp giữ gìn được những giá trị lịch sử của di sản cho cộng đồng và
nhân loại.
- Kết quả nghiên cứu của Sử học sẽ là cơ sở khoa học cho công tác xác định giá trị, bảo tồn và phát
huy giá trị đích thực của di sản vì sự phát triển bền vững trong bối cảnh đời sống hiện tại. 2. Sử
học với sự phát triển ngành công nghiệp văn hóa
* Công nghiệp văn hóa:
- Công nghiệp văn hóa là thuật ngữ sử dụng cho các ngành công nghiệp kết hợp sự sáng tạo, sản
xuất và thương mại hóa các nội dung sáng tạo.
- Về bản chất công nghiệp văn hóa mang tính phi vật thể và văn hóa, được bảo vệ bởi Luật Bản
quyền và thể hiện dưới hình thức sản phẩm hay dịch vụ.
- Các ngành công nghiệp văn hóa thể hiện rõ xu thế kinh tế và văn hóa thấm sâu vào nhau, là kết
hợp của các yếu tố chính: sáng tạo, cơ sở hạ tầng và công nghệ sản xuất hiện đại, từ đó có thể sản
sinh ra các sản phẩm văn hóa đem lại lợi ích kinh tế.
- Sản phẩm và dịch vụ của mỗi ngành công nghiệp văn hóa có đặc điểm riêng, nhưng về cơ bản các
ngành công nghiệp văn hóa có quy trình hoạt động chính: sáng tạo, sản xuất, phân phối dịch vụ và
tiêu dùng sản phẩm văn hóa,
* Các lĩnh vực công nghiệp văn hóa ở Việt Nam gồm: quảng cáo; kiến trúc; phần mềm và các trò
chơi giải trí; thủ công mỹ nghệ; thiết kế; điện ảnh; xuất bản; thời trang; nghệ thuật biểu diễn; mỹ
thuật nhiếp ảnh và triển lãm; truyền hình và phát thanh; du lịch văn hóa.
* Sử học với sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa:
- Ngày nay, phát triển ngành công nghiệp văn hoá trở thành một nhiệm vụ trọng tâm của nhiều
quốc gia trên thế giới.
+ Sử học có mối quan hệ gắn bó, chặt chẽ với một số ngành, nghề trong lĩnh vực công nghiệp vẫn
hoá để bảo tồn và phát huy các giá trị của công nghiệp văn hóa.
7
+Sử học cung cấp những tri thức liên quan đến ngành công nghiệp văn hóa về quá trình hình
thành, phát triển và biến đổi; về vị trí, vai trò của ngành trong đời sống xã hội,...
- Mối liên hệ giữa Sử học với sự phát triển ngành công nghiệpvăn hóa được thể hiện:
+ Sử học hình thành ý tưởng và nguồn cảm hứng cho ngành công nghiệp văn hoá như: đề tài phim
ảnh, các loại hình giải trí, thời trang,... gắn với quảng bá di sản văn hoá.
+ Sử học nghiên cứu, đề xuất chiến lược phát triển bền vững (kết hợp giữa bảo tồn các giá trị lịch
sử, văn hoá với phát triển kinh tế, xã hội).
- Mối liên hệ giữa ngành công nghiệp văn hóa với Sử học được thể hiện:
+ Ngành công nghiệp văn hóa cung cấp thông tin, nguồn tri thức của ngành cho việc nghiên cứu
lịch sử như: quá trình ra đời, thực trạng, triển vọng, vị trí và đóng góp của ngành đối với xã hội,...
+ Ngành công nghiệp văn hóa thúc đẩy Sử học phát triển quảng bá các giá trị lịch sử, văn hoá
truyền thống của các cộng đồng, cũng như tri thức lịch sử và văn hoá nhân loại.
+ Ngành công nghiệp văn hóa góp phần lưu giữ và phát huy các giá trị lịch sử, văn hoá trong cộng
đồng (thông qua ngành để giáo dục các thế hệ, tôn vinh các giá trị lịch sử, văn hoá...).
3. Lịch sử và văn hoá đối với sự phát triển du lịch
- Trong việc phát triển du lịch - ngành “công nghiệp không khói”, những giá trị về lịch sử, văn hoá
truyền thống có tác dụng thúc đẩy du lịch phát triển.
- Yếu tố hàng đầu của sản phẩm du lịch chính là “sức hấp dẫn của địa danh”, bao gồm các yếu tố
về lịch sử, văn hóa truyền thông, tôn giáo, tín ngưỡng, ẩm thực, giải trí, sản phẩm thủ công mỹ
nghệ,...
- Khi đi tham quan du lịch, du khách trong nước và quốc tế thường chọn lựa địa danh có liên quan
đến di tích lịch sử, văn hóa để tìm hiểu và trải nghiệm.
- Việt Nam được bầu chọn là “Điểm đến hàng đầu châu Á về di sản, ẩm thực và văn hoá” là nhờ có
hệ thống di tích lịch sử, di sản văn hoá và di sản thiên nhiên trên khắp cả nước.
+ Về di tích lịch sử, di tích văn hóa như: Đền Hùng (Phú Thọ), Phố cổ Hà Nội, Cố đô Hoa Lư
(Ninh Bình), Cố đô Huế, Phố cổ Hội An (Quảng Nam).
+ Về di sản tự nhiên như: Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Hồ Ba Bể (Bắc Cạn), Vườn Quốc Phong
Nha
- Các địa danh, di tích lịch sử, văn hóa chính là sức hấp dẫn của các yếu tố về lịch sử, văn hoá,
cảnh quan,... là nơi còn lưu giữ được dấu ấn lịch sử, văn hoá truyền thống một cách có hệ thống,
được bảo tồn và khai thác một cách khoa học.
8
4. Vai trò của lịch sử và văn hoá đối với sự phát triển du lịch. Vai trò của du lịch đối với bảo
tồn di tích lịch sử và văn hóa
* Vai trò của lịch sử và văn hóa đối với du lịch:
- Lịch sử và văn hoá là nguồn di sản, tài nguyên quý giá để phát triển ngành du lịch đem lại những
nguồn lực lớn.
- Lịch sử và văn hoá cung cấp tri thức lịch sử, văn hoá để hỗ trợ quảng bá, thúc đẩy ngành du lịch
phát triển bền vững.
- Lịch sử và văn hoá cung cấp bài học kinh nghiệm, hình thành ý tưởng để lên kế hoạch, xây dựng
chiến lược phát triển ngành du lịch,...
* Vai trò của du lịch đối với bảo tồn di tích lịch sử và văn hóa:
- Sự phát triển của du lịch sẽ góp phần mang lại nhiều nguồn lợi tạo ra việc làm cho người lao
động, mang lại nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy quá trình hội nhập và giao lưu
quốc tế, quảng bá lịch sử, văn hóa cộng đồng ra bên ngoài,...
- Du lịch mang lại nguồn lực hỗ trợ cho việc bảo tồn di tích lịch sử và văn hoá.
- Du lịch cung cấp thông tin của ngành để Sử học nghiên cứu, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát
triển bền vững.
- Du lịch quảng bá lịch sử, văn hóa cộng đồng ra bên ngoài, kết nối và nâng cao vị thế của các
ngành du lịch, Sử học,...
Chủ đề 3: MỘT SỐ NỀN VĂN MINH THẾ GIỚ THỜI KÌ
CỔ - TRUNG ĐẠI
I. KHÁI NIỆM VĂN MINH
1. Khái niệm “văn minh”. Một số nền văn minh của thế giới và Việt Nam
* Khái niệm “văn minh”:Văn minh là những thành tựu đã đạt được khi văn hóa phát triển đến một
mức độ nhất định minh là trạng thái tiến bộ về cả vật chất và tinh thần của xã hội loài người, tức là
trạng thái phát triể của tiền văn hoá.
- Một số nền văn minh thế giới và Việt Nam:
+ Các nền văn minh thế giới như: Văn minh Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Quốc, Ấn Độ, Hy lạ Mã
thời cổ - trung đại.
+ Các nền văn minh của Việt Nam như: Văn minh Văn Lang - Âu Lạc hay còn gọi là Văn minh
Hồng; Văn minh Đại Việt thời phong kiến độc lập, tự chủ;...
2. Những điểm giống và khác nhau giữa văn hóa và văn minh
- Giống nhau: Đều là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong tiến lịch sử.
9
Khác nhau:
+ Văn hóa: Toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra từ khi xuấ cho
đến nay.
+ Văn minh: Những giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra trong giai đoạn phát triển
cao của xã hội.
+ Văn hóa phát triển sớm hơn nền văn minh. Văn hóa ra đời trước sau đó mới tạo ra văn minh nền
văn minh có thể được tạo thành từ một số nền văn hóa.
+ Nền văn minh được đánh giá lớn hơn nhiều so với một nền văn hóa. Vì văn minh là một tập
phức tạp được tạo thành từ nhiều thứ trong đó một khía cạnh là văn hóa.
+ Văn hóa thể hiện nhiều hơn trong tôn giáo, nghệ thuật, văn học, phong tục, đạo đức, âm triết học,
v.v... Còn văn minh thì thể hiện ở luật, hành chính, cơ sở hạ tầng, kiến trúc, sắp xếp xã bị
3. Khái quát tiến trình phát triển lịch sử văn minh phương Đông thời kì cổ - trung đại
- Trong thời kì cổ đại, ở phương Đông có bốn trung tâm văn minh lớn là Ai Cập, Lưỡng Hà Trung
Hoa và Ấn Độ.
- Điểm chung nổi bật là cả bốn nền văn minh này đều hình thành trên lưu vực của các sông lớn.
+ Văn minh Ai Cập được hình thành trên lưu vực sông Nin.
+ Văn minh Lưỡng Hà được hình thành trên lưu vực sông Ti-gơ-rơ và Ơ-phơ-rát.
+ Văn minh Trung Hoa được hình thành trên lưu vực Hoàng Hà và Trường Giang.
+ Văn minh Ấn Độ được hình thành trên lưu vực sông Hằng và sông Ấn.
- Chính nhờ sự bồi đắp của những dòng sông đó nên đất đai ở những nơi này trở nên màu mỡ,
nông nghiệp có điều kiện phát triển trong hoàn cảnh nỗng cụ đang còn thô sơ, dẫn đến sự xuất hiện
sớm của nhà nước.
- Do đó, cư dân ở đây sớm bước vào xã hội văn minh và hơn thế nữa sáng tạo nên những văn minh
vô cùng rực rỡ.
4. Một số biểu hiện của văn minh nông nghiệp phương Đông
* Văn minh phương Đông là văn minh nông nghiệp:
- Tính chất nông nghiệp: sông nước là đặc điểm nổi bật nhất, là bản chất của nền văn minh phương
Đông như: văn minh Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Hoa và Ấn Độ.
- Các nước ở phương Đông hình thành và phát triển chủ yếu dựa vào lưu vực các dòng sông lớn
như sông Nin (Ai Cập), sông Ti-gơ-rơ và Ơ-phơ-rát (Lưỡng Hà), Hoàng Hà, Trường Giang (Trung
Quốc), sông Hằng, sông Ấn (Ấn Độ),...
10
- Lưu vực các dòng sông này tạo nên đồng bằng rộng lớn vựa lúa không chỉ cung cấp nguồn lương
thực cho các nước phương Đông mà còn cho thế giới. Nơi đây đã sớm xuất hiện các nhà nước cổ
đại đầu tiên ở phương Đông.
* Một số biểu hiện của văn minh nông nghiệp ở phương Đông:
- Nguồn lương thực chính của người phương Đông là lúa gạo và các loại ngũ cốc do nền sản xuất
nông nghiệp tạo ra.
- Phương tiện đi lại của người phương Đông thời cổ đại chủ yếu là thuyền.
- Tín ngưỡng của người phương Đông thời cổ đại là sùng bái tự nhiên, gắn với sản xuất nông
nghiệp thời sơ khai, khi khoa học chưa phát triển.
Sinh hoạt văn hóa chủ yếu là các lễ hội như lễ hội cầu mưa, cầu nắng, hội đua thuyền, lễ cày tịch
điền,...
- Nông nghiệp phương Đông gắn với nông thôn, một mô hình xã hội đặc biệt là làng xã. Các công
xã nông thôn có ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống của cư dân nông nghiệp phương Đông.
5. Những đóng góp của nền văn minh phương Đông cho nhân loại
- Về lịch thiên văn học: Cư dân phương Đông đã biết đến sự vận động của Mặt Trời, Mặt Trăng.
Đó là những tri thức đầu tiên về thiên văn học. Cư dân phương Đông đã tính được một năm có 365
ngày, được chia thành 12 tháng. Đây là những cống hiến rất lớn cho việc theo dõi về thiên văn và
tính lịch sau này.
- Về chữ viết: Cư dân phương Đông là những người đầu tiên phát minh ra chữ viết, lúc đầu là chữ
tượng hình, sau này là chữ tượng ý.
- Về toán học: Cư dân phương Đông đã có những cống hiến rất lớn cho nhân ...
Chủ đề 1: LỊCH SỬ VÀ SỬ HỌC
I. HIỆN THỰC LỊCH SỬ VÀ NHẬN THỨC LỊCH SỬ
1. Khái niệm “lịch sử”, tính khách quan của hiện thực và nhận thức lịch sử
a. Khái niệm “lịch sử”
- Lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ của xã hội loài người.
- Lịch sử là những câu chuyện về quá khứ hoặc tác phẩm ghi chép về quá khứ.
- Lịch sử là một khoa học (còn gọi là Sử học) nghiên cứu về quá khứ của con người.
- Khoa học lịch sử nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng đã diễn ra trong xã lội loài người và phát
hiện ra quy luật phát sinh, phát triển của nó.
- Khái niệm lịch sử gắn liền với hai yếu tố cơ bản là hiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử.
+ Hiện thực lịch sử: Là toàn bộ những gì đã diễn ra trong quá khứ, tồn tại một cách khách quan,
không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người (người nhận thức).
Ví dụ: Năm 938, Ngô Quyền chiến thắng oanh liệt quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, kết thúc
nỗi đau mất nước hơn mười thế kỷ, mở ra một kỷ nguyên mới, đưa dân tộc ta tiến vào thời kì xây
dựng và bảo vệ quốc gia phong kiến độc lập. Đó là một hiện thực lịch sử (sự thật, khách quan).
+ Nhận thức lịch sử: là toàn bộ những tri thức, hiểu biết, những ý niệm và hình dung của con người
về quá khứ (nhận thức về sự việc đã xảy ra).
Ví dụ: Khi đánh giá về nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam,
đa số điểm cho rằng, nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là nhờ điều kiện
chủ quan và khách quan thuận lợi. Về chủ quan, , dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã chuẩn
bị 15 năm (1930 - 1945), khi thời cơ xuất hiện, Đảng ta đã phát động quần chúng nhân dân chớp
thời cơ tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc. Về khách quan, đến giữa tháng 8 1945, phát xít Nhật bị Đồng minh đánh bại đã tạo điều kiện cho Cách mạng tháng Tám giành được
thắng lợi nhanh chóng, ít đổ máu. Trong đó, nguyên nhân chủ quan đóng vai trò quyết định.
Tuy nhiên, có một số quan điểm của giới học giả tư sản lại cho rằng Cách mạng tháng Tám năm
1945 giành được thắng lợi là một sự ăn may, trống vắng quyền lực. Đây là nhận định sai lầm về
lịch sử.
+ Khái niệm “Sử học”:
Sử học là một khoa học nghiên cứu về quá khứ của con người. Khoa học lịch sử nghiên cứu về các
sự kiện, hiện tượng đã diễn ra trong xã hội loài người và phát hiện ra quy luật phát sinh, phát triển
của nó.
b. Tính khách quan của hiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử
Hiện thực lịch sử có trước, nhận thức lịch sử có sau. Hiện thực lịch sử là duy nhất và không thể
thay đổi. Hiện thực lịch sử luôn khách quan, không phụ thuộc nhận thức của con người.
- Nhận thức lịch sử rất đa dạng và có thể thay đổi theo thời gian và nhận thức của con người. Nhận
thức lịch sử vừa có tỉnh khách quan, vừa mang tính chủ quan của mỗi người. Sở dĩ nhận thức lịch
sử có tính chủ quan là do mục đích nghiên cứu, nguồn sử liệu, quan điểm tiếp cận, phương pháp
nghiên cứu,...
2. Đối tượng nghiên cứu của Sử học. Chức năng và nhiệm vụ của Sử học
* Đối tượng nghiên cứu của Sử học:
- Là toàn bộ những hoạt động của con người (cá nhân, tổ chức, cộng đồng quốc gia hoặc khu
vực,...) trong quá khứ, diễn ra trên mọi lĩnh vực, như chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, quân sự,
ngoại giao,.. - Đối tượng nghiên cứu của Sử học xuất hiện từ khi con người biết ghi chép lịch sử,
nhưng trong xã hội có giai cấp, quan niệm về đối tượng của Sử học lại khác biệt.
1
+ Sử học phương Đông thời kì cổ trung đại chủ yếu ghi chép về hoạt động của vua, quan, triều
đình. + Sử học mác-xít nghiên cứu về những hoạt động của con người trên tất cả các mặt, như kinh
tế, chính trị, văn hoá, quân sự,...
Như vậy, mục tiêu chính của Sử học không chỉ đơn giản là ghi lại các sự kiện và hành động, mà là
cố gắng hiểu các tình huống trong quá khứ và bối cảnh cũng như nguyên nhân của chúng, để hiểu
rõ hơn về hiện tại.
* Các chức năng của Sử học:
- Chức năng khoa học: khôi phục hiện thực lịch sử thật chính xác, khách quan.
Chức năng xã hội: phục vụ cuộc sống của con người hiện tại thông qua những bài học kinh nghiệm
được đúc kết từ quá khứ.
* Nhiệm vụ của Sử học:
- Trang bị tri thức khoa học, đó những tri thức đã được khoa học lịch sử thừa nhận, giúp con người
hiểu đúng quá khứ.
- Giáo dục, nêu gương bằng cách hướng tới những phẩm chất, giá trị tốt đẹp, tiến bộ và nhân văn.
3. Các nguyên tắc cơ bản của Sử học. Ý nghĩa của việc nắm vững các nguyên tắc cơ bản của Sử
học
* Các nguyên tắc cơ bản của Sử học:
- Nguyên tắc khách quan: khi nghiên cứu, tìm hiểu các sự kiện lịch sử phải dựa vào các nguồn sử
liệu, phải khôi phục lại hiện thực lịch sử một cách khách quan, không nhận thức phiến diện, một
chiều, không theo ý kiến chủ quan.
- Nguyên tắc trung thực: nhà sử học cần trung thực, tôn trọng những gì đã diễn ra, không xuyên
tạc, thêm bớt hoặc làm sai lệch hiện thực lịch sử.
- Nguyên tắc tiến bộ: từ thấu hiểu quá khứ, sử học hướng đến phục vụ cuộc sống con người, góp
phần xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ.
* Ý nghĩa của các nguyên tắc cơ bản:
- Định hướng việc nghiên cứu cho nhà sử học: bám sát mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp nghiên
cứu,...
- Giúp nhà sử học hiểu rõ sứ mệnh, trách nhiệm, đạo đức của người viết.
- Phê phán các quan điểm sai trái, bảo vệ lẽ phải, ủng hộ quan điểm khoa học tiến bộ và nhân văn.
4. Các nguồn sử liệu
* Các nguồn sử liệu:
- Là thông tin về hoạt động của con người trong quá khứ được lưu giữ ở nhiều dạng khác nhau, gọi
là nguồn sử liệu.Nếu không có sửliệu, nhà sử học không thể khôi phục được hiện thực lịch sử.
- Có hai nguồn sử liệu cơ bản: Căn cứ vào mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng được nghiên cứu
và giá trị của thông tin, sử liệu được chia làm hai nguồn cơ bản: sử liệu sơ cấp và sử liệu thứ cấp.
+ Nguồn sử liệu sơ cấp: là sử liệu được tạo ra đầu tiên, gần nhất hoặc gắn liền với thời gian xuất
hiện của các sự kiện, hiện tượng được nghiên cứu, như hồ sơ, văn kiện, nhật kí, ảnh chụp, đoạn
băng hình, hiện vật gốc,... Nguồn sử liệu sơ cấp được coi là bằng chứng quan trọng nhất của nhà sử
học khi miêu tả, phục dựng lại quá khứ.
+ Nguồn sử liệu thứ cấp: là sử liệu được tạo ra sau thời điểm xuất hiện của các sự vật, hiện tượng
được nghiên cứu, thường là những công trình, tác phẩm, bài báo nghiên cứu về hiện thực lịch sử.
Nguồn sử liệu thứ cấp được coi là tài liệu tham khảo (đã thông qua quan điểm tiếp cận, nhận thức
của con người).
5. Các loại hình sử liệu cơ bản
- Sử liệu lời nói - truyền khẩu: là nguồn sử liệu thông qua lời nói, truyền khẩu, gồm những câu
chuyện truyền thuyết, cổ tích, giai thoại,... được lưu truyền từ đời này qua đời khác hoặc những lời
2
kể của nhân chứng lịch sử. Trong thời kì chưa có chữ viết, sử liệu truyền khẩu là một nguồn thông
tin để tìm hiểu lịch sử.
- Sử liệu hiện vật: là nguồn sử liệu vật thể do con người tạo tác, gồm các di tích, công trình hoặc đồ
vật cụ thể.
- Sử liệu hình ảnh: là nguồn sử liệu phản ánh về quá khứ thông qua tư liệu hình ảnh, gồm tranh,
ảnh, băng hình,...
- Sử liệu thành văn: là nguồn sử liệu bằng chữ viết, như sách, báo, bản ghi chép, nhật ký, hiệp ước,
hiệp định,...
6. Các phương pháp cơ bản của Sử học
* Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp lịch sử: tìm hiểu, khôi phục, mô tả các sự kiện, hiện tượng (về quá trình ra đời, phát
triển và suy vong), gắn với bối cảnh lịch sử cụ the,...
- Phương pháp lôgic: tìm hiểu lịch sử trong hình thức tổng quát để tìm ra các đặc điểm chung, bản
chất, quy luật, mối quan hệ nhân - quả của lịch sử...
* Phương pháp trình bày:
- Phương pháp lịch đại: trình bày lịch sử theo thời gian trước - sau (mối liên hệ dọc), giúp người
đọc thấy được tiến trình của lịch sử.
- Phương pháp đồng đại: trình bày lịch sử theo không gian ở cùng giai đoạn (mối liên hệ ngang),
giúp người đọc thấy được ở cùng một thời điểm có những sự kiện nào.
* Phương pháp tiếp cận: phương pháp tiếp cận liên ngành của Sử học khai thác thông tin của nhiều
ngành khoa học (Khảo cổ học, Dân tộc học, Văn hóa học,...) để làm sáng tỏ các sự kiện, hiện
tượng lịch sử có liên quan.
Tuỳ thuộc vào mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu hoặc trình bày thông tin lịch sử,... nhà sử
học sẽ lựa chọn các phương pháp cụ thể. Tuy nhiên, phương pháp mô tả lịch sử (phương pháp lịch
sử) và phương pháp tìm ra đặc điểm khái quát chung (phương pháp lôgic) vẫn là các phương pháp
chủ đạo.
II. TRI THỨC LỊCH SỬ VÀ CUỘC SỐNG
1. Vai trò và ý nghĩa của tri thức lịch sử. Liên hệ với nhận thức của người Việt Nam
*Vai trò:
- Tri thức lịch sử trang bị những hiểu biết về quá khứ cho cá nhân và xã hội.
- Tri thức lịch sử góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa của các cộng đồng.
- Tri thức lịch sử là cơ sở để các cộng đồng cùng chung sống và phát triển bền vững.
* Ý nghĩa:
- Giúp con người nhận thức sâu sắc về cội nguồn, về bản sắc của cá nhân và cộng đồng trong mọi
thời đại, từ đó giúp con người hiểu biết chính mình và thế giới.
- Là nền tảng để tồn tại, giữ gìn và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa cộng đồng và chung sống
trong một thế giới đa dạng.
- Giúp con người có thể dự báo chính xác về thời cơ và nguy cơ trong tương lai hoặc thấy được
chiều hướng vận động, phát triển của hiện tại.
* Liên hệ với nhận thức của người Việt Nam:
- Để hiểu biết lịch sử nói chung và lịch sử Việt Nam nói riêng, mỗi người Việt Nam cần phải có tri
thức về lịch sử, bởi vì:
+ Có tri thức lịch sử mỗi người mới hiểu biết về các lĩnh vực liên quan đến lịch sử. Muốn vậy, mỗi
người cần phải học tập, khám phá, nghiên cứu và trải nghiệm về lịch sử.
+ Tri thức lịch sử có vai trò quan trọng đối với cá nhân và xã hội. Bởi vì, tri thức lịch sử trang bị
những hiểu biết về quá khứ cho cá nhân và xã hội. Tri thức lịch sử góp phần bảo tồn và phát huy
3
các giá trị lịch sử, văn hóa của các cộng đồng. Tri thức lịch sử là cơ sở để các cộng đồng cùng
chung sống và phát triển bền vững.
- Ngoài ra, tri thức lịch sử có ý nghĩa quan trọng, giúp con người nhận thức sâu sắc về cội nguồn,
về bản sắc của cá nhân và cộng đồng trong mọi thời đại.
Nhờ có tri thức lịch sử, con người có thể đúc kết và vận dụng thành công nhiều bài học kinh
nghiệm trong cuộc sống, tránh lặp lại những sai lầm từ quá khứ.
- Trên cơ sở những hiểu biết đúng và đầy đủ về quá trình lịch sử, tri thức lịch sử còn giúp con
người có thể dự báo chính xác về thời cơ và nguy cơ trong tương lai, hoặc thay đổi được chiều
hướng vận động, phát triển của hiện tại.
2. Học tập và khám phá lịch sử suốt đời
* Sự cần thiết phải học tập lịch sử suốt đời:
- Tri thức lịch sử rất rộng lớn và đa dạng. Những kiến thức lịch sử ở nhà trường chỉ là một phần
nhỏ trong kho tàng lịch sử quốc gia, nhân loại. Muốn hiểu đầy đủ và đúng đắn về lịch sử cần có
một quá trình lâu dài.
- Tri thức về lịch sử biến đổi và phát triển không ngừng, gắn liền với sự xuất hiện của các nguồng
liệu mới, những quan điểm và nhận thức mới, lĩnh vực nghiên cứu mới,... Do vậy, những nhận
thức về sự kiện, hiện tượng lịch sử của con người hôm nay rất có thể sẽ thay đổi trong tương lai,...
- Cùng với tìm hiểu tri thức, việc học tập lịch sử suốt đời sẽ giúp mọi người mở rộng và cập nhật
vốn kiến thức, hoàn thiện và phát triển kĩ năng xây dựng sự tự tin, thích ứng với những thay đổi
nhanh chóng của xã hội, tạo ra những cơ hội mới trong cuộc sống và nghề nghiệp.
* Kết nối tri thức lịch sử với đời sống đương đại:
Kiến thức lịch sử là những hiểu biết về các sự kiện, hiện tượng lịch sử diễn ra trong quá khứ. Còn
đời sống đương đại là những gì diễn ra trong thời đại mà chúng ta đang sống, đang chứng kiến.
- Sử dụng tri thức lịch sử và thông qua tri thức lịch sử sẽ giúp con người giải thích, hiểu rõ hơn
những vấn đề thời sự trong nước và quốc tế, những vấn đề thực tiễn cuộc sống hiện nay.
- Hiện tại luôn khởi nguồn từ quá khứ. Những vấn đề thời sự và thực tiễn hôm nay không phải xuất
hiện một cách ngẫu nhiên mà đều ít nhiều xuất phát từ những gì diễn ra trong quá khứ, là kết quả
của quả trình hình thành, phát triển và biến đổi qua thời gian.
- Việc nhận thức đầy đủ và toàn diện về những vấn đề đương đại không thể tách rời tri thức lịch sử
liên quan trong quá khứ. Kết nối kiến thức, bài học lịch sử vào cuộc sống chính là sử dụng tri thức
lịch sử để giải thích và hiểu rõ hơn những vấn đề của cuộc sống hiện tại, là việc nhìn nhận về cuộc
sống hôm nay từ quan điểm lịch sử.
Như vậy, tri thức lịch sử có giá trị lớn đối với mỗi cá nhân và xã hội, có mối liên hệ chặt chẽ với
nhiều lĩnh vực của cuộc sống, như chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, môi trường... Chính vì vậy,
nhiều nhà chính trị, nhà văn hóa, sử học nổi tiếng trên thế giới và trong nước đã khẳng định sự cần
thiết phải đưa kiến thức lịch sử vào cuộc sống.
3. Tìm hiểu quá khứ và làm giàu tri thức lịch sử
- Để tìm hiểu quá khứ và làm giàu tri thức lịch sử, cần phải dựa vào các nguồn sử liệu từ quá khứ.
Sử liệu đóng vai trò là cầu nối giữa hiện thực lịch sử và tri thức lịch sử.
- Khi dựa vào nguồn sử liệu từ quá khứ, cần phải thu thập, xử lí thông tin về sử liệu. Đây là những
khả năng quan trọng trong nghiên cứu cũng như học tập, tìm hiểu lịch sử.
- Thu thập sử liệu là quá trình khảo sát, tìm kiếm, sưu tầm và tập hợp những thông tin liên quan
đến đối tượng học tập, nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử.
- Những thông tin này bao gồm các nguồn sử liệu sơ cấp và thứ cấp; các loại hình sử liệu như lời
nói - truyền khẩu, hiện vật, hình ảnh, thành văn,... hoặc có thể thực hiện bằng phỏng vấn, sử dụng
bảng hỏi, khảo sát, quan sát, điền dã,...
4
- Xử lý thông tin và sử liệu:
+ Là quá trình phân loại, đánh giá, thẩm định nguồn sử liệu đã thu thập được.
+ Xác định tính xác thực, độ tin cậy và giá trị thông tin của các nguồn sử liệu đối với việc học tập,
nghiên cứu và tìm hiểu lịch sử.
Chủ đề 2: VAI TRÒ CỦA SỬ HỌC
I. SỬ HỌC VỚI CÁC LĨNH VỰC KHOA HỌC KHÁC
1. Sử học là một môn khoa học mang tính liên ngành
- Để phục dựng được hoạt động của con người trong quá khứ, Sử học cần kết hợp nhiều phương
pháp nghiên cứu như: phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, phương pháp xử lý sử liệu (phân
tích, tổng hợp), phương pháp điền dã,... Muốn thực hiện các phương pháp đó có hiệu quả, cần phải
có các ngành khác tham gia.
Sử học khai thác tri thức của nhiều ngành khoa học có liên quan, đặc biệt là khoa học xã hội
và nhân văn như: Địa lí học, Tôn giáo học, Văn học, Nhân học,...
- Nhà sử học không thể miêu tả, phục dựng lại một cách đầy đủ, toàn diện bức tranh về quá khứ
nếu chỉ sử dụng những tri thức hoặc các phương pháp lịch sử đơn thuần.
- Một số đối tượng hoặc chủ đề nghiên cứu đòi hỏi nhà sử học cần có một nền tảng kiến thức vững
chắc về lĩnh vực đó trước khi nghiên cứu chuyên sâu, tư liệu lịch sử kinh tế, lịch sử nghệ thuật, lịch
sử tôn giáo...
2. Mối liên hệ giữa Sử học với các ngành khoa học xã hội và nhân văn
* Sử học với các ngành khoa học xã hội và nhân văn:
- Sử học có vị trí, vai trò quan trọng và nổi bật trong số các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Sự
hình thành, phát triển của các ngành khoa học xã hội và nhân văn luôn có sự kết nối và gắn liền với
tri thức lịch sử.
- Sự tồn tại và phát triển của Sử học không thể biệt lập và tách rời với các ngành khoa học xã hội
và nhân văn.
- Tri thức về lịch sử luôn đóng vai trò là một trong những nguồn tri thức nền tảng đối với khoa học
xã hội và nhân văn ở mọi lĩnh vực.
Sử học cung cấp những tri thức về bối cảnh, nội dung, tác động, ý nghĩa,... để làm rõ hơn lịch sử
hình thành và phát triển của các ngành.
- Trong số các ngành khoa học xã hội và nhân văn, Sử học có mối liên hệ đặc biệt gần gũi với
Khảo cổ học, Nhân học, Văn học, Địa lí học, Triết học,... Trong nhiều trường hợp, mối liên hệ Văn
- Sử, Sử - Địa, Sử - Triết có sự gắn kết và giao thoa không thể tách rời.
* Các ngành khoa học xã hội và nhân văn đối với Sử học:
- Trong quá trình nghiên cứu lịch sử, nhà sử học thường xuyên khai thác, sử dụng tri thức của các
ngành khoa học khác, như Khảo cổ học, Địa lí học, Văn học, Xã hội học, Nhân học, Tôn giáo
học,... - Những thông tin của các ngành khoa học xã hội và nhân văn hỗ trợ Sử học tìm hiểu và
nghiên cứu lịch sử một cách toàn diện hơn, cụ thể và chính xác hơn.
- Mối liên hệ giữa Sử học với các ngành khoa học xã hội và nhân văn là mối liên hệ gắn bó, hỗ và
ngày càng quan trọng trong xu thế phát triển liên ngành, đa ngành của các lĩnh vực khoa tương học
ngày nay.
3. Mối liên hệ giữa Sử học với các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ
* Sử học với các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ:
- Mọi ngành khoa học tự nhiên và công nghệ đều có lịch sử.
- Muốn biết được lịch sử phát triển của ngành như thế nào (về sự ra đời, các chặng đường phát
triển, đặc điểm và thành tựu nổi bật, sự tác động của các phát minh, sáng chế đối với cuộc sống..),
người ta cần đến sự hỗ trợ của Sử học.
5
- Sử học phản ánh các cuộc cách mạng công nghiệp:
+Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (1.0) ra đời vào cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX. Đặc
trưng cơ bản là: sản xuất cơ giới hóa, tạo ra máy móc chạy bằng hơi nước.
+ Cách mạng công nghiệp lần thứ hai (2.0) ra đời vào cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Đặc trưng
cơ bản là: điện khí hóa và sản xuất hàng loạt; phát triển các nhà máy dây chuyền.
+Cách mạng công nghiệp lần thứ ba (3.0) ra đời vào nửa sau thế kỉ XX. Đặc trưng cơ bản là: số
hóa và tự động hóa, áp dụng điện tử, công nghệ thông tin vào sản xuất.
+Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) ra đời vào đầu thế kỉ XXI. Đặc trưng cơ bản là: Hệ thống
sản xuất thông minh, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, dữ liệu lớn.
* Các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ đối với Sử học:
- Các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ giúp Sử học trong quá trình sưu tầm, tìm kiếm sử
liệu, nghiên cứu, tìm hiểu, tái hiện quá khứ.
Các lĩnh vực như Vật lí, Hoá học, Sinh học, Địa lí tự nhiên, Thiên văn học, Toán học, Tin học,...
cung cấp dữ liệu rộng lớn và đa dạng cho các nhà sử học.
- Khoa học tự nhiên và công nghệ giúp Sử học miêu tả, trình bày lịch sử một cách toàn diện, cụ thể
và chính xác hơn.
- Địa lí tự nhiên cung cấp những dữ liệu để các nhà sử học nghiên cứu về lịch sử khu vực, vùng
miền hoặc các sự kiện, hiện tượng lịch sử như: địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, tài nguyên.
- Thiên văn học cung cấp những tri thức cơ bản để nhà sử học khám phá về quá trình làm ra lịch sử
và cách tính thời gian của con người trong lịch sử.
- Toán học với các phương pháp phân tích định lượng, thống kê, chọn mẫu,... được nhà sử học sử
dụng khi xử lí số liệu làm cơ sở cho các nhận xét, kết luận....
II. SỬ HỌC VỚI MỘT SỐ LĨNH VỰC, NGÀNH NGHỀ HIỆN ĐẠI
1. Sử học với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá, di sản thiên
* Di sản văn hóa và di sản thiên nhiên:
- Di sản văn hóa: Là di sản các hiện vật, vật thể và thuộc tính phi vật thể của một nhóm hay
xã hội được kế thừa từ thế hệ trước, đã duy trì đến ngày nay và dành cho các thế hệ mai sau.
+ Các di sản văn hóa vật thể như: Quần thể di tích Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa My
Son,...
+ Các di sản văn hóa phi vật thể như: Nhã nhạc cung đình Huế, Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Hát
Xoan Phú Thọ, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Đờn ca Tài tử Nam Bộ,...
+Các di sản tư liệu như: Mộc bản triều Nguyễn, Bia Tiến sĩ Văn Miếu - Quốc Tử Giảm, Mộc bản
kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm,..
+ Di sản văn hóa hỗn hợp như: Quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình).
- Di sản thiên nhiên: Bao gồm cảnh quan có tính văn hóa quan trọng và đa dạng sinh học.
Các di sản thiên nhiên như: Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
(Quảng Bình), Cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang),
* Sử học với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá, di sản thiên nhiên:
- Di sản văn hoá và di sản thiên nhiên là một bộ phận của lịch sử, được lưu giữ trong hiện tại Sử
học.
- Di sản văn hoá, di sản thiên nhiên có mối quan hệ gắn bó mật thiết với Sử học.
+ Các loại hình di sản văn hoá là nguồn sử liệu quan trọng đặc biệt đối với nghiên cứu lịch sử.
6
+ Việc bảo tồn di sản là cơ sở để nhà sử học có thể miêu tả, trình bày lịch sử quá khứ một cách
chính xác.
- Sử học tự nghiên cứu về lịch sử hình thành, phát triển của di sản văn hoá, di sản thiên nhiên, xác
định vị trí, vai trò và ý nghĩa của các di sản đối với cộng đồng.
- Sử học cung cấp những thông tin có giá trị và tin cậy liên quan đến di sản văn hóa, di sản thiên
nhiên, làm cơ sở cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị của di sản. - Giáo dục thế hệ trẻ, bảo vệ sự đa dạng văn hoá và đa dạng sinh học trên toàn cầu.
- Xác định giá trị của các di sản văn hoá, di sản thiên nhiên cần bảo tồn, đề xuất những hình thức,
phương pháp bảo tồn bền vững, hiệu quả.
- Tăng cường công tác bảo tồn giúp giữ gìn được những giá trị lịch sử của di sản cho cộng đồng và
nhân loại.
- Kết quả nghiên cứu của Sử học sẽ là cơ sở khoa học cho công tác xác định giá trị, bảo tồn và phát
huy giá trị đích thực của di sản vì sự phát triển bền vững trong bối cảnh đời sống hiện tại. 2. Sử
học với sự phát triển ngành công nghiệp văn hóa
* Công nghiệp văn hóa:
- Công nghiệp văn hóa là thuật ngữ sử dụng cho các ngành công nghiệp kết hợp sự sáng tạo, sản
xuất và thương mại hóa các nội dung sáng tạo.
- Về bản chất công nghiệp văn hóa mang tính phi vật thể và văn hóa, được bảo vệ bởi Luật Bản
quyền và thể hiện dưới hình thức sản phẩm hay dịch vụ.
- Các ngành công nghiệp văn hóa thể hiện rõ xu thế kinh tế và văn hóa thấm sâu vào nhau, là kết
hợp của các yếu tố chính: sáng tạo, cơ sở hạ tầng và công nghệ sản xuất hiện đại, từ đó có thể sản
sinh ra các sản phẩm văn hóa đem lại lợi ích kinh tế.
- Sản phẩm và dịch vụ của mỗi ngành công nghiệp văn hóa có đặc điểm riêng, nhưng về cơ bản các
ngành công nghiệp văn hóa có quy trình hoạt động chính: sáng tạo, sản xuất, phân phối dịch vụ và
tiêu dùng sản phẩm văn hóa,
* Các lĩnh vực công nghiệp văn hóa ở Việt Nam gồm: quảng cáo; kiến trúc; phần mềm và các trò
chơi giải trí; thủ công mỹ nghệ; thiết kế; điện ảnh; xuất bản; thời trang; nghệ thuật biểu diễn; mỹ
thuật nhiếp ảnh và triển lãm; truyền hình và phát thanh; du lịch văn hóa.
* Sử học với sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa:
- Ngày nay, phát triển ngành công nghiệp văn hoá trở thành một nhiệm vụ trọng tâm của nhiều
quốc gia trên thế giới.
+ Sử học có mối quan hệ gắn bó, chặt chẽ với một số ngành, nghề trong lĩnh vực công nghiệp vẫn
hoá để bảo tồn và phát huy các giá trị của công nghiệp văn hóa.
7
+Sử học cung cấp những tri thức liên quan đến ngành công nghiệp văn hóa về quá trình hình
thành, phát triển và biến đổi; về vị trí, vai trò của ngành trong đời sống xã hội,...
- Mối liên hệ giữa Sử học với sự phát triển ngành công nghiệpvăn hóa được thể hiện:
+ Sử học hình thành ý tưởng và nguồn cảm hứng cho ngành công nghiệp văn hoá như: đề tài phim
ảnh, các loại hình giải trí, thời trang,... gắn với quảng bá di sản văn hoá.
+ Sử học nghiên cứu, đề xuất chiến lược phát triển bền vững (kết hợp giữa bảo tồn các giá trị lịch
sử, văn hoá với phát triển kinh tế, xã hội).
- Mối liên hệ giữa ngành công nghiệp văn hóa với Sử học được thể hiện:
+ Ngành công nghiệp văn hóa cung cấp thông tin, nguồn tri thức của ngành cho việc nghiên cứu
lịch sử như: quá trình ra đời, thực trạng, triển vọng, vị trí và đóng góp của ngành đối với xã hội,...
+ Ngành công nghiệp văn hóa thúc đẩy Sử học phát triển quảng bá các giá trị lịch sử, văn hoá
truyền thống của các cộng đồng, cũng như tri thức lịch sử và văn hoá nhân loại.
+ Ngành công nghiệp văn hóa góp phần lưu giữ và phát huy các giá trị lịch sử, văn hoá trong cộng
đồng (thông qua ngành để giáo dục các thế hệ, tôn vinh các giá trị lịch sử, văn hoá...).
3. Lịch sử và văn hoá đối với sự phát triển du lịch
- Trong việc phát triển du lịch - ngành “công nghiệp không khói”, những giá trị về lịch sử, văn hoá
truyền thống có tác dụng thúc đẩy du lịch phát triển.
- Yếu tố hàng đầu của sản phẩm du lịch chính là “sức hấp dẫn của địa danh”, bao gồm các yếu tố
về lịch sử, văn hóa truyền thông, tôn giáo, tín ngưỡng, ẩm thực, giải trí, sản phẩm thủ công mỹ
nghệ,...
- Khi đi tham quan du lịch, du khách trong nước và quốc tế thường chọn lựa địa danh có liên quan
đến di tích lịch sử, văn hóa để tìm hiểu và trải nghiệm.
- Việt Nam được bầu chọn là “Điểm đến hàng đầu châu Á về di sản, ẩm thực và văn hoá” là nhờ có
hệ thống di tích lịch sử, di sản văn hoá và di sản thiên nhiên trên khắp cả nước.
+ Về di tích lịch sử, di tích văn hóa như: Đền Hùng (Phú Thọ), Phố cổ Hà Nội, Cố đô Hoa Lư
(Ninh Bình), Cố đô Huế, Phố cổ Hội An (Quảng Nam).
+ Về di sản tự nhiên như: Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Hồ Ba Bể (Bắc Cạn), Vườn Quốc Phong
Nha
- Các địa danh, di tích lịch sử, văn hóa chính là sức hấp dẫn của các yếu tố về lịch sử, văn hoá,
cảnh quan,... là nơi còn lưu giữ được dấu ấn lịch sử, văn hoá truyền thống một cách có hệ thống,
được bảo tồn và khai thác một cách khoa học.
8
4. Vai trò của lịch sử và văn hoá đối với sự phát triển du lịch. Vai trò của du lịch đối với bảo
tồn di tích lịch sử và văn hóa
* Vai trò của lịch sử và văn hóa đối với du lịch:
- Lịch sử và văn hoá là nguồn di sản, tài nguyên quý giá để phát triển ngành du lịch đem lại những
nguồn lực lớn.
- Lịch sử và văn hoá cung cấp tri thức lịch sử, văn hoá để hỗ trợ quảng bá, thúc đẩy ngành du lịch
phát triển bền vững.
- Lịch sử và văn hoá cung cấp bài học kinh nghiệm, hình thành ý tưởng để lên kế hoạch, xây dựng
chiến lược phát triển ngành du lịch,...
* Vai trò của du lịch đối với bảo tồn di tích lịch sử và văn hóa:
- Sự phát triển của du lịch sẽ góp phần mang lại nhiều nguồn lợi tạo ra việc làm cho người lao
động, mang lại nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy quá trình hội nhập và giao lưu
quốc tế, quảng bá lịch sử, văn hóa cộng đồng ra bên ngoài,...
- Du lịch mang lại nguồn lực hỗ trợ cho việc bảo tồn di tích lịch sử và văn hoá.
- Du lịch cung cấp thông tin của ngành để Sử học nghiên cứu, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát
triển bền vững.
- Du lịch quảng bá lịch sử, văn hóa cộng đồng ra bên ngoài, kết nối và nâng cao vị thế của các
ngành du lịch, Sử học,...
Chủ đề 3: MỘT SỐ NỀN VĂN MINH THẾ GIỚ THỜI KÌ
CỔ - TRUNG ĐẠI
I. KHÁI NIỆM VĂN MINH
1. Khái niệm “văn minh”. Một số nền văn minh của thế giới và Việt Nam
* Khái niệm “văn minh”:Văn minh là những thành tựu đã đạt được khi văn hóa phát triển đến một
mức độ nhất định minh là trạng thái tiến bộ về cả vật chất và tinh thần của xã hội loài người, tức là
trạng thái phát triể của tiền văn hoá.
- Một số nền văn minh thế giới và Việt Nam:
+ Các nền văn minh thế giới như: Văn minh Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Quốc, Ấn Độ, Hy lạ Mã
thời cổ - trung đại.
+ Các nền văn minh của Việt Nam như: Văn minh Văn Lang - Âu Lạc hay còn gọi là Văn minh
Hồng; Văn minh Đại Việt thời phong kiến độc lập, tự chủ;...
2. Những điểm giống và khác nhau giữa văn hóa và văn minh
- Giống nhau: Đều là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong tiến lịch sử.
9
Khác nhau:
+ Văn hóa: Toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra từ khi xuấ cho
đến nay.
+ Văn minh: Những giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra trong giai đoạn phát triển
cao của xã hội.
+ Văn hóa phát triển sớm hơn nền văn minh. Văn hóa ra đời trước sau đó mới tạo ra văn minh nền
văn minh có thể được tạo thành từ một số nền văn hóa.
+ Nền văn minh được đánh giá lớn hơn nhiều so với một nền văn hóa. Vì văn minh là một tập
phức tạp được tạo thành từ nhiều thứ trong đó một khía cạnh là văn hóa.
+ Văn hóa thể hiện nhiều hơn trong tôn giáo, nghệ thuật, văn học, phong tục, đạo đức, âm triết học,
v.v... Còn văn minh thì thể hiện ở luật, hành chính, cơ sở hạ tầng, kiến trúc, sắp xếp xã bị
3. Khái quát tiến trình phát triển lịch sử văn minh phương Đông thời kì cổ - trung đại
- Trong thời kì cổ đại, ở phương Đông có bốn trung tâm văn minh lớn là Ai Cập, Lưỡng Hà Trung
Hoa và Ấn Độ.
- Điểm chung nổi bật là cả bốn nền văn minh này đều hình thành trên lưu vực của các sông lớn.
+ Văn minh Ai Cập được hình thành trên lưu vực sông Nin.
+ Văn minh Lưỡng Hà được hình thành trên lưu vực sông Ti-gơ-rơ và Ơ-phơ-rát.
+ Văn minh Trung Hoa được hình thành trên lưu vực Hoàng Hà và Trường Giang.
+ Văn minh Ấn Độ được hình thành trên lưu vực sông Hằng và sông Ấn.
- Chính nhờ sự bồi đắp của những dòng sông đó nên đất đai ở những nơi này trở nên màu mỡ,
nông nghiệp có điều kiện phát triển trong hoàn cảnh nỗng cụ đang còn thô sơ, dẫn đến sự xuất hiện
sớm của nhà nước.
- Do đó, cư dân ở đây sớm bước vào xã hội văn minh và hơn thế nữa sáng tạo nên những văn minh
vô cùng rực rỡ.
4. Một số biểu hiện của văn minh nông nghiệp phương Đông
* Văn minh phương Đông là văn minh nông nghiệp:
- Tính chất nông nghiệp: sông nước là đặc điểm nổi bật nhất, là bản chất của nền văn minh phương
Đông như: văn minh Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Hoa và Ấn Độ.
- Các nước ở phương Đông hình thành và phát triển chủ yếu dựa vào lưu vực các dòng sông lớn
như sông Nin (Ai Cập), sông Ti-gơ-rơ và Ơ-phơ-rát (Lưỡng Hà), Hoàng Hà, Trường Giang (Trung
Quốc), sông Hằng, sông Ấn (Ấn Độ),...
10
- Lưu vực các dòng sông này tạo nên đồng bằng rộng lớn vựa lúa không chỉ cung cấp nguồn lương
thực cho các nước phương Đông mà còn cho thế giới. Nơi đây đã sớm xuất hiện các nhà nước cổ
đại đầu tiên ở phương Đông.
* Một số biểu hiện của văn minh nông nghiệp ở phương Đông:
- Nguồn lương thực chính của người phương Đông là lúa gạo và các loại ngũ cốc do nền sản xuất
nông nghiệp tạo ra.
- Phương tiện đi lại của người phương Đông thời cổ đại chủ yếu là thuyền.
- Tín ngưỡng của người phương Đông thời cổ đại là sùng bái tự nhiên, gắn với sản xuất nông
nghiệp thời sơ khai, khi khoa học chưa phát triển.
Sinh hoạt văn hóa chủ yếu là các lễ hội như lễ hội cầu mưa, cầu nắng, hội đua thuyền, lễ cày tịch
điền,...
- Nông nghiệp phương Đông gắn với nông thôn, một mô hình xã hội đặc biệt là làng xã. Các công
xã nông thôn có ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống của cư dân nông nghiệp phương Đông.
5. Những đóng góp của nền văn minh phương Đông cho nhân loại
- Về lịch thiên văn học: Cư dân phương Đông đã biết đến sự vận động của Mặt Trời, Mặt Trăng.
Đó là những tri thức đầu tiên về thiên văn học. Cư dân phương Đông đã tính được một năm có 365
ngày, được chia thành 12 tháng. Đây là những cống hiến rất lớn cho việc theo dõi về thiên văn và
tính lịch sau này.
- Về chữ viết: Cư dân phương Đông là những người đầu tiên phát minh ra chữ viết, lúc đầu là chữ
tượng hình, sau này là chữ tượng ý.
- Về toán học: Cư dân phương Đông đã có những cống hiến rất lớn cho nhân ...
 





