Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên GD&ĐT Đắc Lắk.
Lập học chiếu
Đây là bài cảm nghĩ về chiếu lập trường học rất hay mới quý vị thưởng thức !
Đã hơn hai thế kỷ rồi mà nay đọc bài “Lập học chiếu” (Chiếu chỉ thành lập trường học) của Ngô Thời Nhậm vẫn nóng lên như những dòng thời sự.
Sau khi đưa quân ra Bắc lần thứ hai, vời được Ngô Thời Nhậm tham chính, giúp Nguyễn Văn Huệ (Nguyễn Huệ) lên ngôi Hoàng đế, đại phá 20 vạn quân Thanh (1787), an định Bắc Hà, chính Ngô Thời Nhậm đã thay Thái Tổ Võ Hoàng đế Nguyễn Văn Huệ viết bài Lập học chiếu. Mở đầu bài chiếu ông khẳng định cho quan viên trăm họ trong thiên hạ biết rằng: “Kiến quốc dĩ giáo học vi tiên, cầu trị dĩ nhân tài vi cấp” (Dựng nước lấy việc học làm đầu, cầu trị lấy nhân tài làm gấp). Trước đây, giặc dã bốn phương, nhiều bề rắm rối nên việc học không được quan tâm, khoa cử dần dà bê trễ, nhân tài ngày thiếu thốn nhiều.
Quy luật tuần hoàn, hết loạn đến trị, mọi mặt phải được mở mang, lập giáo hoá, đặt khoa cử để chuyển loạn thành trị một cách toàn diện.
Ông ra lệnh cho các xã sở tại phải lập “học xã” (nhà dạy học), chọn các nho sĩ trong xã có học thức, đức hạnh tốt để giảng dạy cho con em mình; chọn các quan huấn đạo ở phủ đặt làm giáo tập ở phủ; hẹn đến khoa thi hương lấy Tú tài hạng ưu sung vào quốc học, hạng thứ đưa về làm phủ học; còn các Hương cống Triều cũ đều phải đến trình diện cửa quan, đợi bổ nhiệm các chức huấn đạo, tri huyện; các nho sinh, sinh đồ cũ cũng phải chuẩn bị đợi kỳ thi, hạng ưu thì được tuyển vào, hạng liệt (kém) bãi về trường học xã.
Ý thức rằng khi thiên hạ thái bình, muốn xây dựng đất nước hùng cường thì điều đầu tiên phải quan tâm là đào tạo nhân tài, chiêu hiền đãi sĩ, ông chủ trương thu dung tất cả mọi nguồn tri thức sẵn có, huy động bổ sung vào lực lượng giáo dục nước nhà, để đào tạo nhân tài cho đất nước.
Bên cạnh đó ông cũng rất cương quyết với bọn trọc phú, ô danh, lắm của nhiều tiền, mua học hàm, học vị để được tiếng là người có chữ. Thời Lê - Trịnh việc học hành ít được chú ý, khâu tuyển chọn nhân tài lại thiếu chính trực công minh, trường học trở thành nơi mua quan bán tước, ai nộp cho Nhà nước ba quan thì được đứng vào hạng sinh đồ (học trò - Tú tài trước Gia Long) được miễn các loại sưu thuế, phu phen, tạp dịch, nên dân gian thường gọi là “Tam quán sinh đồ” (sinh đồ ba quan). Đối với hạng người này trong Lập học chiếu ông ra lệnh: “Kỳ tam quán sinh đồ nhất thiết lặc hoàn dân hạng, dữ dân đồng thọ dao dịch” (Đối với bọn sinh đồ ba quan nhất thiết buộc trở lại hạng thường dân, cùng dân gánh chịu sưu thuế, phu phen, tạp dịch).
Đọc đến đây thấy lòng dạ hả hê, việc làm đó của Ngô tiên sinh đã để lại cho đời tấm gương sáng ngời về xây dựng một nền giáo dục chân chính, cổ suý được tinh thần thực học, nhằm đào tạo nhân tài, nguồn nguyên khí đích thực cho sự hưng vượng của quốc gia.
Nhưng Ngô Thời Nhậm Tiên sinh ơi! Ngài quá ư đáo để. Người ta tuy không tốn công đèn sách, kinh sử dùi mài nhưng người ta cũng tốn bạc tốn tiền, phải mất đến ba quan mới được tiếng là người có chữ, thế mà Ngài chẳng chịu để cho yên. Ngài có biết việc Ngài làm đã đẩy biết bao nhiêu người đang ăn trên ngồi trốc, thong thả nhàn cư, danh gía đồng hàng với quan viên hương lý bổng nhiên trở lại hạng dân đinh, lại còn phải gánh chịu sưu thuế, phu phen, tạp dịch nữa chứ. Thật là “hơi bất nhã”.
Nhưng cũng xin cẩn cáo với Ngài, Ngài sinh hữu ngộ thời, chung cư đắc địa, gặp phải minh chủ tuyệt đối uy quyền, biết trọng dụng người hiền lại một mực yêu nước thương nòi, chăm lo cho giềng mối, cổ suý cho những ý kiến của Ngài nên Ngài mới tha hồ bày mưu tính kế làm trong sáng quan trường, đưa được sự học trở về chánh đạo; mặt khác, nhờ sở học uyên bác của Ngài, đức độ siêu thường của Ngài nên mệnh lệnh ban ra tức có ngay hiệu lực, chẳng ai dám khinh nhờn vì chỉ một đường tâm phục khẩu phục.
Chúng tôi nay, thế hệ hậu sinh, cũng đang sống trong cảnh có thể nói thiên hạ thái bình, nhưng việc giáo học xem ra còn nhiều nhiễu sự. Ngồi ở ghế nhà trường thì chạy điểm chạy thầy; học thêm dạy thêm về bản chất cũng nhằm mua thầy bán điểm; một số khác thì dùng tiền thao túng, dựa thế cậy quyền để con em mình được học hành nơi tốt nhất; chốn trường thi thì quay cóp, bán đề, rồi thi thế, rồi mua bằng, ...ôi nhiều điều rối rắm!
Cái thuở của Ngài, ba quan tiền để mua của Nhà nước một mãnh bằng tuy hư danh nhưng là minh bạch; ba quan tiền đó được sung vào quốc khố, cũng là việc góp phần ích quốc lợi dân; ông sinh đồ ba quan tuy hư danh nhưng cũng không hề giả dối, người ta biết rất rõ về ông để đối nhân xử thế đúng mực với đời; còn cái thuở của chúng tôi, giữa cái học giả với cái bằng thật, giữa thực và hư, giữa trắng và đen, giữa đục và trong có quá nhiều lẫn lộn, muốn kính trọng nhiều người là điều không khó, nhưng muốn được đối xử rất đời với người mình không kính trọng lại khó hơn nhiều.
Cái thuở của Ngài sách vở hiếm hoi, Tứ thư, Ngũ kinh, Thiên, Y, Lý, Số của các ngài học ngàn năm chưa đổi. Người học trước dạy được người học sau, sách của người trước để lại được cho người sau, không những học được mà còn rất quý hiếm, còn cái thuở con cháu của chúng tôi, sách chỉ được học một lần, nếu để lại năm sau cũng chẳng ai cần đến nó. Chúng tôi nay, cha không dạy được cho con đã đành, anh cũng chẳng bày vẽ được cho em bởi chương trình từng năm người ta luôn thay đổi, cái công nghệ đổi mới thời chúng tôi phát triển tự do, cứ có vài quan chức chủ động hô hào, vài hội thảo tốn kém xảy ra là có ngay phong trào cải cách, cải cách triền miên, hằng năm đổi mới, chỉ cái kiểu chữ viết cũng đã làm hỏng bao thế hệ học trò, may phúc lớn của dân tộc đang còn nên qua bao lần đổi mới vòng vo đã xúi bẩy đổi thành kiểu cũ.
Cái thuở của Ngài học hành đỗ đạt rồi mới làm quan, còn cái thuở của chúng tôi đa phần học cho có mãnh bằng đủ để vào được cửa quan rồi tính kế cho con đường đỗ đạt lên cao hơn nữa mà được thăng quan tiến chức, thực ra con đường này là rất ưu việt, giúp cho nhiều người học hành chân chính thành đạt và có nhiều đóng góp hữu ích cho đời, nhưng khổ nỗi phải là quan thì mới được xem xét để được đi học dạng này, quan càng to thì sự học càng có điều kiện, rộng đường, nhờ các dịch vụ luận văn nên nhiều Thạc sĩ, Tiến sĩ thành công nhẹ nhàng, đỡ được chuyện dùi mài kinh sử, tất cả những hành vi trên vô cùng “tế nhị”, nếu sinh ở thời nay tôi cũng phải nghi ngờ tài thao lược của Ngài trong chốn quan trường.
Ôn cố tri tân, dẫu sao cái sự học dưới tay Ngài thuở ấy đến hôm nay các thế hệ hậu sanh vô cùng trân trọng. Hiện nay, nhiều nhân tài đang tự tìm cách vươn lên không phải bằng con đường gập ghềnh phía trước hằng năm đang còn mò mẫm, mà hướng ngoại đi tìm cái văn minh của nhân loại đã được khẳng định lâu đời mà ở quê mình không muốn học tập cái “văn hoá ngoại lai”. Hy vọng một ngày gần đây lớp hậu thế của Ngài chắc chắn sẽ giỏi khác kiểu của Ngài, và cũng chắc chắn sẽ có người làm được như Ngài mong muốn.
LẬP HỌC CHIẾU VÀ CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC TRIỀU TÂY SƠN
Lập học chiếu là bản chiếu nói về xây dựng việc học của triều Tây Sơn do Ngô Thì Nhậm soạn thảo. Văn bản hiện được sưu tập lại cùng với khoảng 20 bài chiếu, khải, sắc, biểu khác trong tập Hàn các anh hoa, lưu giữ ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu thư viện A.291.
Hàn các anh hoa là tác phẩm quan trọng của Tiến sĩ Ngô Thì Nhậm, xưa nay đã được nhiều học giả quan tâm, chẳng hạn như PGS.TS. Đỗ Thị Hảo giới thiệu trong luận văn tốt nghiệp lớp chuyên tu Hán Nôm thuộc Ban Hán Nôm. Lần này, nhân dịp kỷ niệm 200 năm ngày mất của danh nhân Ngô Thì Nhậm, chúng tôi xin được giới thiệu nguyên văn bản Lập học chiếu này; đồng thời qua đó, bước đầu có đôi điều nhận xét về chính sách giáo dục của thời Tây Sơn, cũng như đóng góp lớn lao của Ngô Thì Nhậm đối với triều đại Tây Sơn.
1. Nội dung văn bản
Nguyên văn Lập học chiếu:
立 學 詔
詔 天 下 官 員 百 姓 等 欽 知.
建 國 以 教 學 為 先, 求 治 以 人 才 為 急, 曩 者 四 方 多 警, 學 政 不 修, 科 法 寢 隳,人 才 愈 乏. 夫 一 治 一 亂, 循 環 之 理, 繼 亂 之 後, 尤 當 興 起 振 作, 立 教 化, 設 科 舉.乃 轉 亂 為 治 大 規 模. 朕 耆 定 方 初, 推 意 教 儒, 留 心 好 士, 欲 得 實 才 以 資 國 家之 用.
合 詔 攽 下 : 所 在 各 社 民, 宜 設 立 社 學 , 擇 社 內 儒 士 . 有 學 行 者 置 為 社 講 諭. 教 習 本 社 士 人 . 其 各 府 祠 宇 , 聽 本 地 分 民 , 認 待 擇 差 府 導 官 . 置 為 教 習 學府 之 所. 仍 期 以 今 年 開 鄉 試 科 , 取 鄉 秀 才 優 等 升 充 國 學 , 次 等 送 補 府 學. 其舊 朝 鄉 貢 未 有 職 任 者 並 詣
闕 朝 侯 , 送 補 訓 導 知 縣 等 職 . 舊 儒 生 , 生 徒 並 待 試 期 入 試 . 優 者 入 選 , 劣者 罷 歸 社 學 . 其 三 貫 生 徒 一 切 勒 還 民 項 , 與 民 同 受 瑤 役 . 嗣 後 各 社 所 置 講諭 . 聽 呈 納 縣 官 類 簿 , 仍 轉 遞 朝 堂 官 給 憑 , 俾 知 策 勵 .
這 關 一 切 大 興 , 合 當 磨 礱 作 志 . 精 白 承 休 , 同 登 寬 裕 之 塗 , 共 贊 清 明 之治 .
Phiên âm:
Lập học chiếu
Chiếu thiên hạ quan viên bách tính đẳng khâm tri.
Kiến quốc dĩ giáo học vi tiên, cầu trị dĩ nhân tài vi cấp.
Nang giả tứ phương đa cảnh, học chính bất tu; khoa pháp tẩm huy, nhân tài dũ phạp.
Phù nhất trị nhất loạn, tuần hoàn chi lí, kế loạn chi hậu, vưu đương hưng khởi chấn tác, lập giáo hóa, thiết khoa cử, nãi chuyển loạn vi trị đại quy mô.
Trẫm kỳ định phương sơ, nhã ý đôn nho, lưu tâm hiếu sĩ, dục đắc thực tài dĩ tư quốc gia chi dụng.
Hợp chiếu ban hạ: Sở tại các xã dân, nghi thiết lập xã học, trạch xã nội nho sĩ hữu học hạnh giả trí vi xã giảng dụ, giáo tập bản xã sĩ nhân. Kỳ các phủ từ vũ, thính bản địa phận dân, nhận đãi trạch sai phủ huấn đạo quan, trí vi giáo tập học phủ chi sở. Nhưng kỳ dĩ kim niên khai hương khí khoa, thủ hương tú tài ưu đẳng thăng sung quốc học, thứ đẳng tống bổ phủ học. Kỳ cựu triều hương cống vị hữu chức nhậm giả, tịnh nghệ khuyết triều hầu, tống bổ huấn đạo, tri huyện đẳng chức. Cựu nho sinh, sinh đồ tính đãi thí kỳ nhập thí, ưu giả nhập tuyển, liệt giả bãi quy xã học. Kỳ tam quan sinh đồ, nhất thiết lặc hoàn dân hạng, dữ dân đồng thụ dao dịch. Tự hậu các xã sở trí giảng dụ, thính trình nạp huyện quan loại bạ, nhưng chuyển đệ triều đường quan cấp bằng, tỉ tri sách lệ.
Giá quan nhất sơ đại điển, hợp đương ma long tác chí, tinh bạch thừa hưu, đồng đăng khoan dụ chi đồ, cộng thanh minh chi trị.
Bố cáo hà nhĩ, sử hàm văn tri.
Dịch nghĩa:
Chiếu xây dựng việc học
Xuống chiếu cho quan viên và dân chúng trong thiên hạ biết: Xây dựng đất nước, lấy dạy học làm đầu, tìm lẽ trị bình, tuyển nhân tài làm gấp. Trước kia bốn phương xảy ra nhiều việc biến động, chế độ học hành không được sửa sang, phép khoa cử dần dần sa sút, nhân tài ngày một khan hiếm. Việc đời lúc trị, lúc loạn là lẽ tuần hoàn. Song sau khi loạn càng cần phải hưng khởi chấn chỉnh, lập giáo hóa, đặt khoa cử. Đó là quy mô lớn chuyển loạn thành trị vậy.
Trẫm buổi đầu đại định vẫn có ý coi trọng Nho học, lưu tâm yêu mến kẻ sĩ, muốn tìm những người thực tài để giúp ích cho đất nước. Chiếu này ban xuống, dân các xã nên lập nhà học của xã mình, chọn những Nho sĩ có học hạnh, đặt làm chức giảng dụ cấp xã để dạy dỗ học trò. Còn như từ vũ ở các phủ thì cho phép dân địa phương chọn làm nơi để quan huấn đạo của phủ đến đặt làm trường giảng tập của phủ. Hẹn trong năm nay sẽ mở khoa thi hương chọn lấy những Tú tài hạng ưu sung vào trường quốc học, còn hạng thứ thì đưa về trường học ở phủ. Những người đỗ Hương cống của triều cũ chưa được bổ nhiệm thì đưa đến triều đình đợi sung bổ vào các chức Huấn đạo, Tri huyện. Các Nho sinh và Sinh đồ cũ đều cho đợi đến kì để vào thi. Loại ưu thì được vào tuyển, loại kém thì trả về trường học của xã. Còn các “Sinh đồ ba quan” thì đều trả về hạng thường dân, và phải cùng gánh vác phu phen tạp dịch. Từ nay về sau, các xã hễ đặt chức giảng dụ thì phải nộp danh sách cho quan huyện, để chuyển đệ lên, để quan triều đình cấp bằng, khiến họ biết được sự khích lệ của trên.
Việc này quan hệ đến điển chương lớn buổi đầu, ai nấy phải mài rũa chí khí, phấn chấn tinh thần để đón phúc lành, để cùng bước lên con đường thênh thang, giúp cho nền thịnh trị trong sáng.
Vậy bố cáo xa gần, khiến mọi người đều biết.
Bùi Quang Minh Trí @ 22:17 29/01/2011
Số lượt xem: 934
- Giám thị đang ở đâu trong trường học? (09/01/11)
- Trường THCS Lý Tự Trọng (M’Drak) phấn đấu vươn lên đạt Trường chuẩn quốc gia (07/01/11)
- Tự hào là sinh viên khoa Giáo dục Tiểu học - Đại học Vinh (28/12/10)
- Liên Đội Hòa Phú và những hoạt động trong tháng 12/2010 (22/12/10)
- Thầy Tech … Tiểu phẩm – Hoài Nguyễn (13/11/10)