Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên GD&ĐT Đắc Lắk.
Chuyện Tình Của Cha Tôi_Hoài Nguyễn
Chuyện Tình Của Cha Tôi_Hoài Nguyễn

Chuyện Tình Của Cha Tôi.
Ngày còn nhỏ, thỉnh thoảng cha tôi hay kể chuyện về thời kỳ ông tham gia chiến tranh chống Pháp. Trong những câu chuyện kể, ông có kể một chi tiết mà tôi thấy hay mà tôi tạm đặt tên là “ Chuyện Tình Của Cha Tôi ”. Thời điểm câu chuyện dĩ nhiên là chưa có tôi và mãi sau này, gần cuối cuộc kháng chiến do hoàn cảnh đưa đẩy, ông quay lại làng và lập gia đình.
Năm 1947, quân đội Pháp sau khi đánh chiếm trở lại Nam Kỳ, tiến đánh các tỉnh Bắc bộ đã dấn thêm một bước ở các tỉnh Trung Trung bộ. Ngày nào cũng có một tốp máy bay “ Bà Già” Dakota bay lướt qua các tỉnh của Liên khu V ném bom hú họa các vùng mà họ nghi là có bộ đội Việt Minh trú quân.
Các trai tráng trong làng lần lượt nhập ngũ lên đường kháng chiến chống Pháp. Ba tôi cũng vậy. Lúc này trong ngôi làng ven sông Trà chỉ còn lại hầu hết là người già, trẻ con và phụ nữ lo việc đồng áng, cày cấy thay cho cánh đàn ông. Mấy bà già trong hội “Mẹ chiến sĩ ” tất bật lo việc quyên góp quà, lương thực , may áo quần bằng vải xi-ta nâu, ruột tượng đựng gạo cho các chàng trai làng ra chiến trường.
Nhà ông nội tôi có bốn người con trai thì bác Bốn tôi và Bảy (ba tôi) còn độc thân trai tráng nên xung phong và được đơn vị tuyển quân nhận. Bác Ba đã lập gia đình còn chú Chín còn quá nhỏ để mà đi bộ đội. Bác Bốn vào một đơn vị bộ đội chiến đấu chuyển lên đóng vùng núi Ba Tơ, còn ba tôi năm đó vừa tròn hai mươi thì chuyển vào một đơn vị quân giới thuộc Công binh xưởng Liên khu V và đóng quân ở núi rừng Tiên Phước tỉnh Quảng Nam….
***
Anh Bảy, người tầm thước và khéo tay nên được đưa vào đơn vị quân giới này. Nhiệm vụ của đơn vị là làm ra và sửa chữa những vũ khí mà thời kháng chiến còn rất thiếu. Nghe kể kỹ sư Trần Đại Nghĩa chỉ huy trưởng toàn bộ xưởng quân giới này.
Trong những trận đánh nhau với Pháp, bộ đội dù có thương vong nhiều đi mấy nhưng trong nhiệm vụ thu dọn chiến trường nhất quyết phải thu gom toàn bộ số vũ khí của cả hai bên, khiên về rồi giao cho xưởng quân giới sửa chữa hoặc tái chế. Những quả lựu đạn “chày” ngày ấy còn thô sơ, người lính trước khi ném vào quân thù phải cầm cái chày rồi “dộng” vào báng súng, chờ nó “xịt khói” rồi mới ném mạnh vào đối phương. Có quả thì nổ tung nhưng cũng có nhiều quả xịt khói xong thì im tịt! Súng ống cũng vậy. Hầu hết là súng bộ đội sử dụng là thu được của Tây với đủ chủng loại, đủ quốc tịch. Đa phần là súng từ hồi thế chiến II để lại nên bắn ít thì không nói gì nhưng nếu bắn rát quá đỏ nòng thì đạn rơi trước mặt và hay bị “ kẹt” đạn…
Ngoài những nhiệm vụ trên, bất kỳ đơn vị bộ đội nào khi bị máy bay Pháp ném bom, nếu may mà quả bom Pháp cũng “ tịt” thì đơn vị ngay lập tức khoanh vùng, chờ sau cuộc chiến tập trung lại đào cho bằng được quả bom “ thúi” này khiên về cho quân giới lấy thuốc bom mà chế ra thủ pháo…
Anh Bảy xốc vác nên được chỉ huy công binh xưởng phân làm trung đội trưởng chỉ huy một nhóm mấy chục anh em trai tráng đa phần quê các tỉnh Nam, Ngãi, Bình, Phú tham gia kháng chiến. Trong đơn vị có anh Năm Ga, cùng tuổi nhưng vai vế thì gọi anh Bảy bằng chú thúc bá.
Thời chiến trăm bề thiếu thốn. Lương thực, thực phẩm đa phần phải tự túc tăng gia sản xuất hoặc hỗ trợ của dân quanh vùng đóng quân nên các đơn vị bộ đội phải tích cực làm công tác dân vận. Mỗi người lính đều có một “ Mẹ chiến sĩ ” đỡ đầu và giúp cho “con” rất nhiều thứ. Nào là áo quần, nào là thuốc men, đặc biệt là thuốc ký-ninh. Miền tây Quảng Nam là vùng núi rừng nên lắm sốt rét…
Lán trại của đơn vị làm bằng tre nứa, lợp tranh trên những hào giao thông chạy quanh co chằn chịt để tránh bom và để chiến đấu khi quân Pháp có tấn công. Kho bom mìn chờ tái chế để gần như lộ thiên, chỉ che đậy bằng những tấm phên, tấm tranh. Những quả thủ pháo, những súng đạn chờ ra lại mặt trận thì chứa trong những sọt đan bằng tre rất chắn chắn.
Những ngày xong việc, đơn vị thường hay tổ chức “đá banh” để giải trí. Thỉnh thoảng tổ chức đá giao hữu với thanh niên quanh vùng. Anh Bảy là một tay tiền vệ có hạng của đơn vị.
Cổ động viên là những đám trẻ con, ông già bà cả trong vùng và nhất là các cô thiếu nữ. Thời kháng chiến thật vui. Tất cả chỉ là phong trào chứ không quyết thắng thua. Các cô gái đều quan tâm đến tất cả các đội thi đấu. Họ lo nước chanh, khăn mặt hết sức tươm tất trong hoàn cảnh của chiến tranh. Hôm giải phóng Tam Kỳ, các đơn vị tiếp quản tổ chức đấu giao lưu bóng đá. Và anh Bảy lọt vào “mắt xanh” của một cô gái phố xá ….
Cô gái Tam Kỳ có cái tên rất mộc mạc, cô Na đem lòng quí mến anh Bảy bộ đội kháng chiến. Lớn lên, trai thời chiến, học hành chẳng mấy, theo lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, anh Bảy cũng chưa kịp có mối tình nào với các thanh nữ trong làng. Thế là họ thương nhau. Cô Na đưa anh Bảy về giới thiệu gia đình. Và thật sự bất ngờ, nhà Cô Na chỉ một mẹ một con. Gia đình thuộc thành phần trung lưu thành thị có “ dây mơ, rễ má ” với cách mạng, tranh thủ mua bán thuốc tây để tiếp tế cho kháng chiến. Thuốc tây lúc đó là một mặt hàng quí hiếm thời chiến. Mẹ cô Na cũng kín kẻ với hàng xóm nên nhận anh Bảy là con nuôi, và bà làm “ Mẹ chiến sĩ”.
Đóng quân một thời gian, quân Pháp đổ bộ lên Đà Nẵng và lần lượt tấn chiếm các vùng ven biển trong đó có Tam Kỳ. Đơn vị của anh Bảy phải rút về căn cứ trong một đêm không trăng sao. Mẹ con cô Na phải ở lại vùng bị tạm chiếm nhưng lòng dạ lúc nào cũng nhớ về miền tây núi rừng Quảng Nam…
***
Rồi đơn vị của anh Bảy tiếp tục công việc như bấy lâu nay. Vẫn thu gom, chế biến vũ khí, đạn dược cung cấp cho chiến trường đánh Pháp.
Từ ngày rút về núi rừng, thỉnh thoảng anh Bảy vẫn nhận quà và những lá thư của cô Na. Anh vẫn hy vọng một ngày kháng chiến thành công, anh sẽ về sum họp với người con gái anh thương, với bà mẹ già ủng hộ kháng chiến, về với đời thường sau khi giã từ vũ khí…
Lần đó, anh nhớ cô Na quá nhờ Năm Ga là thằng cháu coi giúp việc điều hành ở phân xưởng còn anh lén đi về vùng “địch hậu”. Sau mấy tháng trời xa cách mà anh ngỡ chừng thiên thu. Gặp nhau mừng mừng tủi tủi. Anh không dám ra khỏi nhà vì bây giờ Tam Kỳ bị Pháp tái chiếm đã xuất hiện nhiều phần tử chỉ điểm. Ở thăm ba hôm, anh Bảy từ giã gia đình cô Na để trở về đơn vị. Mẹ Na chu đáo may cho anh Bảy hai bộ xi-ta, cho thêm anh một xấp tiền Đông Dương và mấy gói thuốc Trường Xuân về cho anh em chia vui.
Gần sáng, anh từ biệt mẹ và hứa ngày trở lại. Cô Na chèo thuyền đưa anh qua sông. Đi bộ suốt đêm, đến tầm trưa ngày hôm sau, anh về đến “nhà của mình” mà đôi chân mỏi nhừ…
Anh em trong đơn vị đi làm cả. Người thì trồng mì sắn trên sườn đồi, người thì vác súng đi săn cải thiện. Ở lán trại chỉ còn Năm Ga đang cùng với ba anh lính trẻ đang lui cui cưa mấy quả bom “thúi”. Số bom này do một đơn vị dân công mới chuyển về tối hôm qua, và đơn vị anh phải nhanh chóng sản xuất vũ khí chuyển cho chiến trường Măng Đen…
Thấy anh Bảy về, mọi người mừng lắm. Họ hỏi thăm đủ chuyện về những “người quen” khi giải phóng Tam Kỳ… Rồi anh Bảy lôi ra một chai rượu lớn và một túm mực khô mà anh mua được khi ngang qua một chợ quê miền ven kháng chiến…
Một bữa “liên hoan” nho nhỏ được bày ra cùng với ít thịt rừng săn được để dành. Rồi thuốc lá thơm Trường Xuân được thay cho thuốc lá vấn khét lẹt Cẩm Lệ.
Năm anh em “tẩn” hết chai rượu và mồi thì ngà ngà say. Mỗi anh mỗi võng lăn quay ra ngủ như chết và quả là ...như vậy…
***
Đang chập chờn như nửa tỉnh nửa mơ, Bảy thấy một chiếc “Bà Già” đuổi theo anh và bắn một tràng liên thanh. Đạn bay vun vút quanh anh nhưng không trúng, anh vẫn cứ tiếp tục chạy. Rồi anh thấy chiếc máy bay bỏ anh và quay qua đuổi bắn một chiếc ghe nhỏ trên một dòng sông vắng. Trên chiếc ghe, trong mơ anh thấy một cô gái rất giống ….Na. Cô Na đưa tay cầu cứu một cách tuyệt vọng. Anh thấy thằng phi công Pháp thò mặt ra khỏi máy bay, cười nhăn nhở với Na và rồi từ trong bụng máy bay một trái bom lộn nhiều vòng trước khi lao xuống chiếc ghe bé bỏng tội nghiệp của Na. Anh nghe một tiếng nổ dữ dội và chiếc ghe của Na bay tung lên. Anh cũng bị bật tung ra khỏi võng và thiếp đi một giấc dài.
Anh quờ quạng trong bóng đêm bị bừng sáng lên bởi những tiếng nổ đinh tai nhức óc. Anh dụi mắt, vỗ tay vào đầu cho tỉnh hẵn. Tiếng nổ vẫn rền vang xung quanh anh. Mãnh đạn bay tung tóe. Anh đang nằm dưới hầm giao thông và kho bom đạn của công binh xưởng bị nổ. Thôi chết rồi! Anh tỉnh hẵn mặc dù vẫn bị tiếng nổ làm điếc đặc lỗ tai. Bọn biệt kích Pháp nó đổ bộ và tấn công binh xưởng của mình rồi. Mấy thằng vệ binh đâu sao không thấy ứng cứu? Năm Ga và mấy anh em đâu cả rồi? Hàng loạt câu hỏi đặt ra mà không thể nào anh hiểu nỗi! Rồi tiếng nổ dần thưa thớt nhưng anh bị ngất đi không còn biết gì nữa…
***
Anh Bảy tỉnh dậy và thấy mình đang nằm trên một chiếc giường tre. Có mùi thuốc tây xung quanh và có nhiều tiếng người qua lại. Anh đưa tay dụi mắt nhưng trên đầu anh là những vòng băng quấn kín mắt. Thôi rồi, mình đã bị thương… Hình như bị trên đầu thì phải!
Rồi anh nghe tiếng người, hình như đang ngồi gần anh hỏi:
- Anh tỉnh rồi phải không? Anh có biết là mình đang ở đâu không?
- Dạ! Tui bị thương à? Binh xưởng bị Tây nó đánh úp à?
- Cháy hết rồi! Chúng tôi cũng muốn biết vấn đề này đấy! Chẳng có Tây nào đánh cả! Tự nó cháy hay ai có âm mưu phá thì chúng tôi đang tìm hiểu! Anh Bảy ! Chúng tôi bên quân pháp của tỉnh, ngồi cạnh anh suốt hai ngày nay rồi đó. Anh chỉ bị sức ép của bom nổ làm chảy máu tai thôi.
Rồi người cán bộ quân pháp lần hồi kể lại câu chuyện sau khi đám cháy nổ được dập tắt.
Buổi tối hôm đó, sau khi mấy anh em “liên hoan” xong, đội vệ binh đi tuần bên ngoài nghe vài tiếng nổ . Ban đầu nhỏ có lẽ là tiếng nổ của thủ pháo, lựu đạn nên nghi ngờ là biệt kích Pháp nhảy vào và đánh kho đạn của ta. Anh em vội tập trung chạy về để phản công nhưng vừa đến chân đồi thì bắt đầu nghe tiếng bom nổ. Mảnh bom văng tung tóe nên không ai dám vào. Trên trời thì không có bóng dáng chiếc máy bay ném bom nào của Pháp, không thấy tiếng súng nổ. Như vậy là có kẻ đột nhập đốt phá kho bom mìn rồi. Thế rồi bom cứ nổ, mảnh đạn, mảnh bom cứ bay tung tóe khắp nơi. Cũng may căn cứ chứa bom mìn xa cách khu dân nên không có thiệt hại gì về dân nhưng mãi đến hai hôm sau đám cháy nổ mới dừng lại có lẽ vì nó đã cháy hết số bom mìn? Sau đó mọi người tập trung vào cứu những gì còn có thể. Người ta tìm thấy bốn xác chết của đồng đội, anh Bảy đang bất tỉnh dưới hào và một số vật dụng cá nhân vương vãi khắp nơi. Trong mớ thu nhặt được, các vệ binh tìm thấy một bộ xi-ta mới may, bị cháy gần hết, trong túi áo có một xấp tiền Đồng Dương bị cháy một nửa. Họ còn tìm thấy mấy gói thuốc Trường Xuân bay tấp vào mấy bụi sim rừng gần lán trại…
- Bây giờ đầu mối để chúng tôi điều tra vụ cháy kho đạn quân giới là anh đó anh Bảy à! Có gì thì anh nên thành thật và cung cấp những tình tiết cho chúng tôi. Có người khai anh hôm trước vụ cháy kho đạn mấy hôm là anh có về vùng “địch hậu” phải không? Người cán bộ quân pháp sau khi kể tóm tắt sự việc cháy kho đạn, lạnh lùng “hỏi cung” anh Bảy.
- Dạ! Tôi có xuống Tam Kỳ ba hôm. Trước hết là tranh thủ mua ít thuốc men cho anh em trong đơn vị, thứ nữa là thăm “bà mẹ nuôi” kết nghĩa hôm đơn vị tiếp quản Tam Kỳ.
- Thế số tiền trong túi áo anh nhận của ai? Còn mấy gói thuốc lá Trường Xuân nữa? Các anh đi kháng chiến mà dùng tiền, thuốc lá như của bọn “tư sản, địa chủ” nhỉ? Anh khai thật đi! Cấp trên nghi ngờ anh là “gián điệp” của Pháp cài vào cơ sở để phá hoại kháng chiến đó! Vụ này lớn đó! Kho đạn gần như bị phá hủy hoàn toàn. Chắc chắn là anh phải ra tòa án binh rồi!
Anh Bảy một mực kêu oan và kể lại sự thật từ khi vào Tam Kỳ, quen cô Na, đến làm con nuôi của mẹ Na. Rồi thư từ qua lại với cô Na, đến lúc tranh thủ xuống Tam Kỳ rồi bày ra cuộc “liên hoan” và xảy ra “tai họa”. Anh nghĩ bụng cứ nói thật là dễ nhất. Mà có gì không thật đâu!
Rồi người cán bộ quân pháp nọ chào anh. Trước khi đi, anh ta thuyết phục anh “nói thật” đi. Sẽ là một tình tiết giảm nhẹ tội cho anh!
Anh Bảy mệt mỏi và hoang mang quá! Anh lần mò và tự nghĩ ra nguyên nhân nào lại xảy ra vụ cháy này? Chắc chắn là “có kẻ” đốt hoặc vô tình làm bén lửa cháy. Người đó không phải là anh. Nhưng những người khác có mặt lúc đó đã chết cả rồi! Ai là nhân chứng cho sự vô tội của anh? Mọi nghi vấn đổ hết vào anh cũng là điều hoàn toàn hợp lý thôi!
Rồi anh thiếp đi. Khi cô y tá đến tiêm thuốc và thay băng mắt cho anh, lại thấy có một cán bộ quân pháp đến. Rồi anh ta chờ y tá làm việc xong, cũng lại hỏi những chuyện gần như tương tự như anh cán bộ quân pháp trước.
Rồi anh cũng phải trả lời những câu hỏi như hôm trước. Rồi tiếp tục trong vòng nửa tháng trời, cứ cách hai ba ngày, một anh quân pháp lạ hoắc lại xuất hiện, hỏi anh, ghi ghi chép rồi đi. Anh vẫn một mực kêu oan, tiếp tục trả lời … Anh Bảy gần như phát điên. Không có ai làm chứng và minh oan cho anh. Chỉ mong các cấp điều tra hết sức khách quan, đủ chứng lý thuyết phục mới mong cứu được mạng anh.
Sau khi ra viện, anh Bảy bị tạm giam để chờ bên quân pháp tiếp tục điều tra vụ cháy nổ kho đạn. Anh được chuyển đến một địa điểm khác nghe đâu ngoài Quảng Ngãi lúc này vẫn là còn trong tay kháng chiến. Nghe nói vùng quê anh lúc này nhiều đơn vị về đóng quân, một số cơ sở sản xuất như nhà máy giấy, nhà máy in cũng chuyển về nên đông vui lắm.
Người ta giam anh gần ba tháng và tổ chức một phiên tòa để xét xử vụ án “ gián điệp Pháp” phá nổ kho đạn Liên khu V, phá hoại sự nghiệp kháng chiến của quân dân ta!
Rồi người ta tuyên án tử hình anh Bảy với tội danh “gián điệp cho Pháp”, cho anh mười lăm ngày kháng án lên cấp trên. Trong đám bạn tù, có mấy người là trí thức, cũng tham gia kháng chiến nhưng do một số sinh hoạt riêng tư như làm thơ, viết sách nên bị vu là tiểu tư sản trà trộn kháng chiến, bị bắt giam nhưng tội không đến nỗi chết. Họ nghe anh kể tình tiết như vậy nên xúm lại bàn về nguyên nhân của vụ cháy nổ kho đạn.
Có ý kiến cho rằng trước khi anh Bảy từ Tam Kỳ trở về lại đơn vị, các anh em trong đơn vị đang cưa mấy quả bom “thúi” của Pháp. Quá trình cưa như vậy, thuốc nổ trong bom theo lưỡi cưa và rơi dưới đất. Những anh em trong xưởng không ai để ý và sau khi ngà ngà, sẵn có thuốc lá thơm nên anh nào cũng tranh nhau hút. Và chắc chắn là một trong những anh đã chết rồi ném tàn thuốc xuống nơi những thuốc bom vương vãi. Thuốc bom là một chất dể cháy và cháy nhanh, dẫn lửa cực nhanh nên một khi nó bắt lửa rồi thì khó mà ngăn được. Hậu quả là vụ cháy nổ xảy ra và thiệt hại như trên. Sau khi nghe anh em bạn tù phân tích, anh Bảy tỉnh ngộ ra, viết đơn và gửi lên tướng chỉ huy Liên khu V lúc đó là Đàm Quang Trung. Ông này là một viên tướng kháng chiến mà nghe nói là quân Pháp rất ngại đụng độ với quân của tướng Trung này. Ông có tài cưởi ngựa, bắn súng hai tay và rất thiện xạ. Có giai thoại một cán bộ cấp tiểu đoàn cãi lệnh tác chiến của ông, nổi nóng ngồi ngay trên lưng ngựa, tướng Đàm Quang Trung rút khẩu ru-lô ổ quay, một chiến lợi phẩm thu được khi hạ gục tên quan năm của Pháp trận đổ bộ Bồng Sơn, bắn rách một bên tai của tay cán bộ tiểu đoàn này. Từ đó nghe tên tuổi viên tướng này, cả bộ đội cũng như quân Pháp đều khiếp. Nhưng được cái là ông tướng này làm việc rất công minh, không hồ đồ. Xét xử việc gì cũng phải đầy đủ chứng lý và thuyết phục mới được thi hành.
Thời chiến tranh, phương tiện giao liên chủ yếu là người và nhanh hơn nữa là ngựa để chuyển giao công văn. Anh Bảy sống trong những ngày hy vọng sống hết sức mong manh và tuyệt vọng. Đến ngày thi hành án, vẫn chưa thấy công văn phúc đáp của cấp trên nên tòa án binh ra lệnh thi hành án.
Sáng sớm, anh Bảy được những người quản tù đánh thức dậy, cho ăn uống rồi bịt mắt dẫn đến nơi thi hành án. Anh đi một cách chậm rãi, trong đầu chợt nhớ về cô Na ở nơi Tam Kỳ kia, có biết anh sắp từ giã cõi đời này không? Rồi anh Bảy nhớ đến làng quê, một ngôi làng bên bờ sông Trà ngày đêm âm vang với tiếng bờ xe nước, những đêm trăng vui đùa hát ghẹo dưới lũy tre bao bọc . Nhớ những ngày mùa trai tráng trong làng cày bừa ruộng hoặc những đêm trăng đập lúa…. Tất cả thế là hết!
Anh Bảy có cảm giác người ta đưa anh vào một đường hầm xe lửa để bắn. Dưới chân anh đi sột soạt là đá đường tàu và xung quanh là mùi ẩm mốc của đường hầm. Sau này anh mới biết đó là đèo Bình Đê.
Sau khi cột anh Bảy vào cọc tre xong, người chỉ huy cho anh phút ân huệ cuối cùng. Anh Bảy chỉ xin hút hết điếu thuốc Trường Xuân, gói thuốc mà mẹ cô Na gửi cho anh và may sao nó vẫn còn trong túi áo anh đến tận giờ.
Anh được toại nguyện. Anh đưa cho viên trưởng toán số thuốc lá còn lại và mời mọi người cùng hút tiễn biệt. Trong màn vải đen bịt mắt tử tù, anh hút những hơi thuốc cuối cùng của cuộc đời, nhớ miên man về cha mẹ, anh em, về cô Na, về bà “Mẹ chiến sĩ” Tam Kỳ, về đồng đội, về những kỷ niệm.
Bỗng anh Bảy nghe tiếng ngựa phi nhanh và dồn dập từ xa đến gần. Rồi anh nghe tiếng quát như ra lệnh: Đừng lại! Dừng lại! Không được bắn! Lệnh của tướng Đàm Quang Trung đây!
Anh Bảy không tin ở tai mình nữa. Thế là mình chưa chết! Thế là mình còn sống! Thế là mình còn gặp lại mọi người… Thế là…
Rồi anh được cởi tấm khăn đen bịt mắt, cùng với đội binh thi hành án nghe đọc lệnh của tướng khu V. Nội dung lệnh ngắn gọn, chỉ báo tạm thi hành án, chờ tổ chức điều tra lại vụ án và đích thân quân của tướng Trung sẽ điều tra.
Rồi quân của tướng Trung đưa anh trở lại miền tây Tiên Phước, nơi xảy ra vụ án. Anh tường trình chi tiết, kể lại như lúc anh đã từng kể cho các cán bộ quân pháp tỉnh. Rồi người ta đưa anh Bảy về Tam Kỳ, lúc này đã được giải phóng, gặp lại mẹ con cô Na để xác minh nguồn gốc số tiền Đông Dương trên áo anh còn sót lại và những gói thuốc lá Trường Xuân.
Đến nhà mẹ Na, anh không tin ở mắt mình. Giữa nhà là một bàn thờ dường như mới lập mà trên đó là bức di ảnh của… cô Na! Cả trời đất như sụp đổ trước chân anh. Mẹ Na khi nhìn thấy anh với mấy anh bộ độ quân tướng Trung vào nhà, sau một thoáng ngỡ ngàng đã khóc nấc:
- Em nó mất rồi con ơi! Đau đớn lắm con ơi! Nó mất hôm con đi đó! Mồ mả cha thằng Pháp. Con tui có tội tình chi mà nó bắn nó giết con gái tui …
Cả anh Bảy và mấy anh bộ đội đều khóc. Anh Bảy khóc một cách vật vã khác với tính cách ngày thường của một người lính. Rồi anh hiểu ra sự tình…
Sáng hôm đó, Na chèo thuyền đưa anh qua sông để anh theo băng theo đường mòn về căn cứ. Khi quay về một mình trống trải trên dòng sông Tam Kỳ thì bất ngờ có chiếc máy bay Pháp xuất hiện. Nó bắn một loạt đạn xuống chiếc thuyền nan và cô Na không kịp nhảy xuống dòng sông, trúng đạn chết ngay. Chiếc thuyền và cả cô Na chìm theo dòng nước và mấy ngày sau mới tìm thấy… Hèn chi trong giấc mơ lúc nổ kho bom đạn, anh thấy hình ảnh máy bay Pháp đuổi theo anh, rồi bắn cô Na. Na bị chết oan ức nên đã hiển linh cho anh thấy trong lúc xảy ra vụ nổ và cũng chính vì thế, anh giật mình, ngã nhào xuống hào giao thông mới sống sót sau vụ nổ.
Anh và mấy anh em quân tướng Trung ở lại nhà mẹ Na mấy ngày. Mẹ cứ nấn ná không muốn cho các con đi. Nhà vốn neo đơn, nay cô Na mất nữa càng lại thêm quạnh quẽ. Cái số mẹ nó như vậy. Đầu cuộc kháng chiến, chồng mẹ hy sinh khi Pháp nhảy vào Đà Nẵng. Đến giữa cuộc kháng chiến thì mất đứa con gái duy nhất. Rồi mẹ biết nương dựa vào ai? Rồi mẹ khóc… Anh Bảy hứa sau này, đuổi Pháp xong rồi anh sẽ ra ở với mẹ. Còn bây giờ mẹ hãy giữ gìn sức khỏe… Anh chỉ biết nói vậy, chẳng thể nói gì hơn!
Rồi người ta cũng xác minh được nguyên nhân vụ cháy nổ kho bom đạn. Đúng như những bạn tù của anh Bảy đã phán đoán. Nguyên nhân là bất cẩn và tự hại bản thân. Anh Bảy chỉ bị kỷ luật vì tội thiếu tinh thần trách nhiệm, để cấp dưới gây ra hậu quả nghiêm trọng. Mà những người gây ra đều chết cả. Anh bị kỷ luật tước quân tịch, cho về quê sau thời hạn một năm, nếu chưa hòa bình anh được phép quay lại quân đội. Đó là đầu những năm 50.
Sau này chiến sự ác liệt, quân Pháp tấn công dữ dội trở lại những tỉnh miền Trung Trung bộ để thông thương với cao nguyên Trung phần. Anh Bảy nghe kể lại mẹ Na cũng bị mất trong đoàn người tản cư khi chạy về miền tây Quảng Nam….
****
Hoài Nguyễn – ngày 19/6/2011
( Như một nén hương tưởng nhớ đến người Cha Thân Yêu đã mất trong Ngày Của Cha )
Nguyễn Văn Sang @ 19:13 19/06/2011
Số lượt xem: 1053
- “Thưa Cô, Vì sao lại có những chuyện như vậy?” (31/05/11)
- Tổ chức Ngoại khóa và Giáo dục giới tính cho học sinh (29/03/11)
- Hội Trại Hòa Phú Chào mừng 80 năm Ngày thành lập Đoàn 26/3 (29/03/11)
- Diễn Đàn Thiếu Nhi Việt Nam Tiến Bước Lên Đoàn (28/03/11)
- Lập học chiếu (29/01/11)
Chuyện Tình Của Cha Tôi.