Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên GD&ĐT Đắc Lắk.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Kiểm tra 1 tiết

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Lưu
Ngày gửi: 18h:31' 22-09-2024
Dung lượng: 17.5 KB
Số lượt tải: 31
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Lưu
Ngày gửi: 18h:31' 22-09-2024
Dung lượng: 17.5 KB
Số lượt tải: 31
Số lượt thích:
0 người
ĐỀ ÔN TẬP SỐ 3
PHẦN ĐỌC HIỂU ( 4.0 điểm): Đọc văn bản sau
Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thuỳ mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp. Trong làng
có chàng Trương Sinh, mến vì dung hạnh, xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Song Trương Sinh có tính đa nghi,
đối với vợ phòng ngừa quá sức. Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hoà.
Cuộc sum vầy chưa được bao lâu thì xảy ra việc triều đình bắt lính đi đánh giặc Chiêm. Trương tuy con nhà hào phú
nhưng không có học, nên phải ghi trong sổ lính đi vào loại đầu. Buổi ra đi mẹ chàng có dặn rằng:
- Nay con phải tạm ra tòng quân, xa lìa dưới gối. Tuy hội công danh từ xưa ít gặp, nhưng trong chỗ binh
cách phải biết giữ mình làm trọng, gặp khó nên lui, lường sức mà tiến, đừng nên tham miếng mồi thơm để lỡ mắc vào
cạm bẫy. Quan cao tước lớn nhường để người ta. Có như thế, mẹ ở nhà mới khỏi lo lắng vì con được.
Chàng quỳ xuống đất vâng lời dạy. Nàng rót chén rượu đầy tiễn chồng mà rằng:
- Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin
ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rối. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng
còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến cho tiện thiếp băn khoăn,
mẹ hiền lo lắng. Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, cũng sợ không
có cánh hồng bay bổng.
Nàng nói đến đây, mọi người đều ứa hai hàng lệ. Rồi đó, tiệc tiễn vừa tàn, áo chàng đành rứt. Nước mắt cảnh
vật vẫn còn như cũ, mà lòng người đã nhuộm mối tình, muôn dặm quan san!
Bấy giờ, nàng đương có mang, sau khi xa chồng vừa đầy tuần thì sinh ra một đưa con trai, đặt tên là Đản. Ngày qua
tháng lại, thoắt đã nửa năm, mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không
thể nào ngăn được. Bà mẹ cũng vì nhớ con mà dần sinh ốm. Nàng hết sức thuốc than lễ bế thần phật và lấy lời ngọt
ngào khôn khéo khuyên lơn. Song bệnh tình mỗi ngày một trầm trọng, bà biết không sống được, bèn trối lại với nàng
rằng:
- Ngắn dài có số, tươi héo bởi trời. Mẹ không phải không muốn đợi chồng con về, mà không gắng ăn miếng
cơm miếng cháo đặng cùng vui sum họp. Song, làm tham vô cùng mà vận trời khó tránh. Nước hết chuông rền, số
cùng khí kiệt. Một tấm thân tàn, nguy trong sớm tối, việc sống chết không khỏi phiền đến con. Chồng con nơi xa xôi
không biết sống chết thế nào không thể về đền ơn được. Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng
tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ.
Bà cụ nói xong thì mất. Nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ của
mình.
(Lược dẫn phần cuối: Sau khi mẹ chồng mất, những ngày ở một mình, nàng hay đùa con, trỏ bóng mình trên vách bảo đó là cha Đản.
Khi Trương Sinh trở về, vì nghe lời ngây thơ của con trẻ, lại đa nghi, đã nghi oan cho Vũ Nương, nàng không thể giải thích cho chồng hiểu nên
đã nhảy xuống sông tự vẫn để minh chứng cho sự thủy chung của mình. Vũ Nương được Linh Phi cứu, sống tiếp đời mình ở chốn thủy cung.
Tới khi gặp được Phan Lang, là người cùng làng, nàng tâm sự cùng Phan Làng rồi nhờ gửi lời cho chồng lập đàn giải oan ở bến sông thì nàng sẽ
trở về. Trương Sinh theo lời lập đàn giải oan cho vợ, nhưng hình bóng Vũ Nương chỉ hiện lên chốc lát rồi loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi
mất, nàng vĩnh viễn sống ở thủy cung, không thể quay lại nhân gian.)
(Nguyễn Dữ ; Chuyện người con gái Nam Xương, Truyền kì mạn lục, NXB Trẻ,
tr…)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1: Xác định ngôi kể của người kể chuyện.
Câu 2: Tìm những từ ngữ thể hiện tính cách cách của hai nhân vật Vũ Nương và Trương Sinh? ( Cách 2: Chỉ ra một
đặc trưng tiêu biểu nhất của thể truyền kì trong văn bản?)
Câu 3: Phân tích tác dụng của việc sử dụng những từ Hán Việt trong văn bản .
Câu 4: Nhận xét về một phẩm chất nổi bật của nhân vật Vũ Nương được thể hiện trong văn bản.
Câu 5: Qua văn bản, hãy nêu một cách ứng xử của nhận vật Vũ Nương mà anh chị thấy có ý nghĩa nhất đối với
cuộc sống hôm nay và giải thích lý do.
PHẦN VIẾT ( 6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ ) trình bày cảm nhận về tâm trạng của nhân vật trữ tình)
trong bài thơ sau:
Cảnh khuya
Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.
Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
Hồ Chí Minh - Năm 1947
(Chú thích: Cảnh khuya được sáng tác vào năm 1947 – năm đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ chỉ huy kháng chiến đóng ở
chiến khu Việt Bắc. )
Câu 2 (4.0 điểm): Hãy viết một văn bản nghị luận khoảng 500 chữ thuyết phục người khác thay đổi một thói quen
(tính) xấu làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình ( ví dụ: Sự đa nghi, thói vũ phu, thói gia trưởng…)
........................HẾT.........................
PHẦN ĐỌC HIỂU ( 4.0 điểm): Đọc văn bản sau
Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thuỳ mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp. Trong làng
có chàng Trương Sinh, mến vì dung hạnh, xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Song Trương Sinh có tính đa nghi,
đối với vợ phòng ngừa quá sức. Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hoà.
Cuộc sum vầy chưa được bao lâu thì xảy ra việc triều đình bắt lính đi đánh giặc Chiêm. Trương tuy con nhà hào phú
nhưng không có học, nên phải ghi trong sổ lính đi vào loại đầu. Buổi ra đi mẹ chàng có dặn rằng:
- Nay con phải tạm ra tòng quân, xa lìa dưới gối. Tuy hội công danh từ xưa ít gặp, nhưng trong chỗ binh
cách phải biết giữ mình làm trọng, gặp khó nên lui, lường sức mà tiến, đừng nên tham miếng mồi thơm để lỡ mắc vào
cạm bẫy. Quan cao tước lớn nhường để người ta. Có như thế, mẹ ở nhà mới khỏi lo lắng vì con được.
Chàng quỳ xuống đất vâng lời dạy. Nàng rót chén rượu đầy tiễn chồng mà rằng:
- Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin
ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rối. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng
còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến cho tiện thiếp băn khoăn,
mẹ hiền lo lắng. Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, cũng sợ không
có cánh hồng bay bổng.
Nàng nói đến đây, mọi người đều ứa hai hàng lệ. Rồi đó, tiệc tiễn vừa tàn, áo chàng đành rứt. Nước mắt cảnh
vật vẫn còn như cũ, mà lòng người đã nhuộm mối tình, muôn dặm quan san!
Bấy giờ, nàng đương có mang, sau khi xa chồng vừa đầy tuần thì sinh ra một đưa con trai, đặt tên là Đản. Ngày qua
tháng lại, thoắt đã nửa năm, mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không
thể nào ngăn được. Bà mẹ cũng vì nhớ con mà dần sinh ốm. Nàng hết sức thuốc than lễ bế thần phật và lấy lời ngọt
ngào khôn khéo khuyên lơn. Song bệnh tình mỗi ngày một trầm trọng, bà biết không sống được, bèn trối lại với nàng
rằng:
- Ngắn dài có số, tươi héo bởi trời. Mẹ không phải không muốn đợi chồng con về, mà không gắng ăn miếng
cơm miếng cháo đặng cùng vui sum họp. Song, làm tham vô cùng mà vận trời khó tránh. Nước hết chuông rền, số
cùng khí kiệt. Một tấm thân tàn, nguy trong sớm tối, việc sống chết không khỏi phiền đến con. Chồng con nơi xa xôi
không biết sống chết thế nào không thể về đền ơn được. Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng
tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ.
Bà cụ nói xong thì mất. Nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ của
mình.
(Lược dẫn phần cuối: Sau khi mẹ chồng mất, những ngày ở một mình, nàng hay đùa con, trỏ bóng mình trên vách bảo đó là cha Đản.
Khi Trương Sinh trở về, vì nghe lời ngây thơ của con trẻ, lại đa nghi, đã nghi oan cho Vũ Nương, nàng không thể giải thích cho chồng hiểu nên
đã nhảy xuống sông tự vẫn để minh chứng cho sự thủy chung của mình. Vũ Nương được Linh Phi cứu, sống tiếp đời mình ở chốn thủy cung.
Tới khi gặp được Phan Lang, là người cùng làng, nàng tâm sự cùng Phan Làng rồi nhờ gửi lời cho chồng lập đàn giải oan ở bến sông thì nàng sẽ
trở về. Trương Sinh theo lời lập đàn giải oan cho vợ, nhưng hình bóng Vũ Nương chỉ hiện lên chốc lát rồi loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi
mất, nàng vĩnh viễn sống ở thủy cung, không thể quay lại nhân gian.)
(Nguyễn Dữ ; Chuyện người con gái Nam Xương, Truyền kì mạn lục, NXB Trẻ,
tr…)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1: Xác định ngôi kể của người kể chuyện.
Câu 2: Tìm những từ ngữ thể hiện tính cách cách của hai nhân vật Vũ Nương và Trương Sinh? ( Cách 2: Chỉ ra một
đặc trưng tiêu biểu nhất của thể truyền kì trong văn bản?)
Câu 3: Phân tích tác dụng của việc sử dụng những từ Hán Việt trong văn bản .
Câu 4: Nhận xét về một phẩm chất nổi bật của nhân vật Vũ Nương được thể hiện trong văn bản.
Câu 5: Qua văn bản, hãy nêu một cách ứng xử của nhận vật Vũ Nương mà anh chị thấy có ý nghĩa nhất đối với
cuộc sống hôm nay và giải thích lý do.
PHẦN VIẾT ( 6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ ) trình bày cảm nhận về tâm trạng của nhân vật trữ tình)
trong bài thơ sau:
Cảnh khuya
Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.
Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
Hồ Chí Minh - Năm 1947
(Chú thích: Cảnh khuya được sáng tác vào năm 1947 – năm đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ chỉ huy kháng chiến đóng ở
chiến khu Việt Bắc. )
Câu 2 (4.0 điểm): Hãy viết một văn bản nghị luận khoảng 500 chữ thuyết phục người khác thay đổi một thói quen
(tính) xấu làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình ( ví dụ: Sự đa nghi, thói vũ phu, thói gia trưởng…)
........................HẾT.........................
 





