Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Quảng Cáo

    LTD2.jpg LTD4.jpg LTD__6.jpg Tro_ly_AI.jpg LTD1.jpg LTD1.jpg LTD__6.jpg LTD4.jpg Thay_Le_Thien_Duc_Thuyet_Trinh_SP_AI_for_life_Daklak_2026.jpg LTD2.jpg LTD_5.jpg LTD1.jpg Thay_Le_Thien_Duc_Thuyet_Trinh_SP_AI_for_life_Daklak_2026.jpg Thay_Le_Thien_Duc_Thuyet_Trinh_SP_AI_for_life_Daklak_2026.jpg TK_tao_SP_AI_for_Life_Daklak_2026_Le_Thien_Duc.jpg Ma_QR_truy_cap_Website_truong_THCS_Nguyen_Truong_to_Eawer.jpg IMG_20260712_102751.jpg FB_IMG_1785764874056.jpg IMG_20260803_204441.jpg

    Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên GD&ĐT Đắc Lắk.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    tranh dan gian hang trong

    0108Fi11AL.jpg
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Trần Thanh
    Ngày gửi: 00h:01' 10-01-2010
    Dung lượng: 44.4 KB
    Số lượt tải: 4
    Mô tả:
    TRANH HÀNG TRỐNG Tranh Hàng Trống một trong những dòng tranh dân gian Việt Nam được làm và bày bán chủ yếu tại các phố Hàng Trống, Hàng Nón, Hàng Hòm và Hàng Quạt thuộc tổng Tiêu Túc (sau đổi là Thuận Mỹ), huyện Thọ Xương (nay là quận Hoàn Kiếm, Hà Nội), nhưng chủ yếu là ở Hàng Trống (xưa là thôn Tự Tháp). Dòng tranh này hiện nay gần như đã bị mai một hết, chỉ còn lưu giữ trong các viện bảo tàng.
    Cùng với các hộ dân cư bản địa lâu đời, cũng có nhiều thợ vẽ và thợ khắc tài hoa từ nơi khác đến đây làm thuê cho các chủ xưởng in tranh. Do buôn bán cạnh tranh, thường in kèm tên hiệu như Thanh An, Vĩnh Lợi, Phúc Bình..
    Dòng tranh này cũng như các dòng tranh phổ biến khác đều có hai dòng tranh chính là tranh thờ và tranh Tết. Tranh thờ thì có tranh Phật, Tam hoà Thánh mẫu, Tứ phủ, Ngũ hổ... Tranh Tết thì Chúc phúc, Tứ quí, ...
    Hiện không có tài liệu nào chứng minh về thời điểm ra đời của dòng tranh này, nhưng nhìn chung nhiều thông tin cho thấy dòng tranh này ra đời vào khoảng thế kỷ 16. Và chịu ảnh hưởng rõ rệt của các luồng tư tưởng, văn hóa, tôn giáo, của vùng miền, các dân. Là kết quả của sự giao thoa tinh hoa giữa Phật giáo, Nho giáo; giữa loại hình tượng thờ, điêu khắc ở đình, chùa với những nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá hằng ngày.
    Phát triển trong một thời gian khá dài nhưng tới thế kỷ 20 dòng tranh này bắt đầu suy tàn, nhất là kể từ sau kết thúc chiến tranh Việt Nam hầu như các nhà làm tranh đều bỏ nghề. Nhiều nhà còn đốt bỏ hết những dụng cụ làm tranh như ván, bản khắc.
    Trong số bản khắc tranh Hàng Trống còn giữ lại được, có mấy tấm đặc biệt giá trị, lưu tại Bảo tàng Lịch sử ở Hà Nội dưới ký hiệu I.5484 a.b.c. Những tấm gỗ thị dầy dặn này được khắc cả hai mặt, theo đề tài rút từ kinh nhà Phật hay cổ tích Việt Nam, Trung Hoa, kèm cả tuổi tranh "Quý Mùi lục nguyệt khởi Minh Mệnh tứ niên", tức là 1823 dương lịch. Những tấm ván này được khắc cách đây đã ngót hai trăm năm, nên ta có cơ sở tin rằng dòng tranh Hàng Trống xuất hiện còn sớm hơn thế khá nhiều.

    Cách in ấn và vẽ
    Tranh Hàng Trống sử dụng kỹ thuật nửa in nửa vẽ, tranh chỉ in ván nét lấy hình, còn màu là thuốc nước, tô bằng bút lông mềm rộng bản, một nửa ngọn bút chấm màu, còn nửa ngọn bút kia chấm nước lã, tô tranh theo kỹ thuật vờn màu.
    Tranh chỉ có một bản đen đầu tiên, sau khi in thì tranh được tô màu lại bằng tay. Từ các bản khắc gốc, những bức tranh đã được in ra, bằng mực Tàu mài nguyên chất. Sau đó là công đoạn bồi giấy. Tùy thuộc từng tranh cụ thể mà có tranh chỉ bồi một lớp, có tranh lại phải bồi đến 2 hay 3 lớp giấy. Khi hồ đã khô thì mới có thể vẽ mầu lại. Có khi phải mất đến 3, 4 ngày mới hoàn thành một bức tranh.
    Tranh được in trên giấy dầy hay giấy báo khổ rộng. Có những tranh bộ khổ to và dài, thường bồi dầy, hai đầu trên dưới lồng suốt trục để tiện treo, phù hợp với kiểu kiến trúc nhà cao, cửa rộng nơi thành thị.
    Ván khắc được làm bằng gỗ lồng mực hoặc gỗ thị. Mực in truyền thống dùng bằng những chất liệu dân dã nhưng cầu kỳ và tinh xảo trong chế tác.

    Màu sắc và cách tạo màu
    Tranh dùng các gam màu chủ yếu là lam, hồng đôi khi có thêm lục, đỏ, da cam, vàng... Tỷ lệ được tạo không hề đúng với công thức chuẩn mà chỉ để cho thật thuận mắt và ưa nhìn.
    Màu đen của tranh được làm từ tro rơm nếp hay tro lá tre được đốt và ủ kỹ, màu vàng từ hoa hòe, màu chàm của các loại nguyên liệu từ núi rừng, màu son của sỏi đồi tán nhuyễn. Những màu sắc đó được pha với dung dịch hồ nếp cổ truyền tạo cho tranh một vẻ óng ả và trong trẻo mà các loại màu hiện đại không thể nào có được.

    Đề tài và nội dung tranh
    Đề tài của tranh rất phong phú nhưng chủ yếu là tranh thờ  như: Hương chủ, Ngũ hổ, Độc hổ, Sơn trang, Ông Hoàng Ba, Ông hoàng Bẩy... Ngoài ra cũng có những bức tranh chơi như: Tố nữ, Bốn mùa (mỗi bản bốn vế), Tranh Kiều, Nhị độ mai; hoặc những bức phỏng theo các vở tuồng. Có những bức dùng để chơi Tết như tranh Gà, Cá chép trông trăng...
    (st)

     

      
     
      


    (không biết tên)



    Bịt mắt bắt dê



    Chợ quê



    Công việc nhà nông



    Tây du ký


      
     
      
    Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, con Hổ là con vật đã từ lâu được tôn thờ. Và danh xưng của hổ cũng được thần thánh hóa là Ngài, là Ông. Hổ được dựng thành biểu tượng qua nhiều chất liệu của tạo hình: gỗ, đá, vôi giấy, đất nung, tranh vẽ, tranh cắt giấy... có ở hầu khắp các công trình: đền, miếu, đình, lăng mộ v.v... Nhưng mẫu tranh được biết đến nhất qua nhiều thế hệ đó là tranh Ngũ hổ của phố Hàng Trống (Hà Nội) ngày xưa.

    Tranh Ngũ hổ Hàng Trống có kích cỡ 0,55m x 0,75m. Tranh vẽ năm con hổ được bố cục đông đầy, cân đối trên mặt giấy. Mỗi con một dáng vẻ: con thì đứng, con thì ngồi, con cưỡi mây lướt gió... Đây là loại tranh khắc gỗ in trên giấy. Nhưng cách thức của dòng tranh Hàng Trống là chỉ in bản nét rồi dùng bút lông tô màu. Trong quá trình tô màu, các nghệ nhân đã vờn chuyển màu, tạo độ đậm, nhạt, sáng, tối. Nên các nhân vật trong tranh không còn là mảng bẹt như cách thể hiện của các dòng tranh đương thời. Với bút pháp diễn tả ấy, các nhân vật đã "nổi khối". Đồng thời với việc vờn chuyển diễn tả khối này, các nghệ nhân còn đi sâu vào việc phát huy khả năng diễn tả của nét. Cùng với những nét được khắc in qua bản gỗ, khi cần nhấn, đẩy các chi tiết, các nghệ nhân Hàng Trống không ngần ngại dùng bút để nẩy, tỉa. Với cách thức sáng tạo của riêng mình, các nghệ nhân Hàng Trống không chỉ tạo nên nét riêng cho dòng tranh, mà đã làm bật lên sức sống nội tại của nhân vật. Điều này người xem rất dễ dàng nhận thấy thông qua các nhân vật hổ: những khối thân chắc khỏe, những dáng ngồi, thế đứng đường bệ, oai phong đặc biệt những chiếc đuôi như đang ve vẩy hoặc uốn vồng lên để đập xuống đất mà bật chồm lên. Và những con mắt hổ hừng hực nội lực của loài mãnh chúa.

    Màu sắc trong tranh Ngũ hổ là một thế giới hòa sắc, lộng lẫy, uy linh. Nhưng nó vẫn được khu biệt với năm màu: xanh, đỏ, trắng, vàng, đen trên năm nhân vật. Lối dùng màu này của các nghệ nhân Hàng Trống thể hiện rõ một hàm ý, mang triết lý sâu xa của quan niệm dân gian truyền thống:

    Hoàng hổ: Con hổ ngồi chỉnh trện giữa tranh được vẽ vờn bằng màu vàng, tượng trưng cho hành thổ - ứng với trung ương chính điện.

    Thanh hổ: Con hổ được vẽ bằng màu xanh là tượng trưng cho hành Mộc, ứng với phương Đông.

    Bạch hổ: Con hổ được vẽ bằng màu trắng là hành Kim ứng với phương Tây.

    Xích hổ: Con hổ được vẽ bằng màu đỏ là hành Hỏa ứng với phương Nam.

    Hắc hổ: Con hổ được vẽ bằng màu đen là hành Thủy ứng với phương Bắc.

    Như vậy 5 nhân vật hổ, được thể hiện bằng 5 màu: đỏ, đen, vàng, xanh, trắng, mang một ý nghĩa tượng trưng cho ngũ hành. Quan niệm cách thể hiện hình, màu mang tính ước lệ, tượng trưng này trong nghệ thuật dân gian xưa là rất phổ biến.
    (văn hóa Việt Nam)

    Ngũ hổ

    Bạch hổ                                                 
       Hắc hổ


    Hoàng hổ

    Thanh hổ                                              Xích hổ
     

    Bà chúa thượng ngàn



    Đạo Phật - Đạo Lão và Đạo Thánh Mẫu



    Phật Bà Quan Âm



    (không rõ)


     
     
     
       









      
     
      



    Em bé ôm cá



    Lý ngư vọng nguyệt



    Rồng rắn lên mây



    Múa sư tử
     

    Cô Ba (trong đạo Mẫu)

    (Trả lời Lanhavn)
     
     

    Kiều gặp Kim Trọng

    Tố nữ
    Ở tranh "Tố nữ" không có thần thánh nào cả, chỉ có cái đẹp dịu dàng, mới mẻ mà quen thân. Chỉ có niềm vui của múa và hy vọng của âm nhạc với bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Thật là một lời chúc Tết, đón xuân rất sâu sắc cho tất cả mọi người.
    Thơ Hồ Xuân Hương vịnh tố nữ, người đẹp hát xương:
    "Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình...
    Chị cũng xinh mà em cũng xinh".



    Thất Đồng
    Trong dòng tranh dân gian Hàng Trống, Thất đồng là một trong những tranh được các tầng lớp thị dân ưa chuộng, thường bày treo trong mỗi dịp Tết cổ truyền, bởi có thể coi Thất đồng như một lời chúc tụng đầu năm, như hiện thân của vẻ đẹp hoàn thiện và những ước vọng của con người về một cuộc sống phồn vinh hạnh phúc...
    Với khuôn khổ khá lớn (1,2m x 0,6m), tranh Thất đồng treo ở bất cứ vị trí nào cũng chiếm lĩnh và tỏa sáng cả một khoảng không gian lớn. Nó mang đến cho người xem không khí rực rỡ, tươi mát của những ngày đầu xuân.
    Tranh có bố cục như sau :
    Một cây đào, cành lá xum xuê, quả sai trĩu cành. Xúm xít quanh gốc đào là một bầy "thất đồng". Bảy chú bé xuất hiện trên tranh như những tiên đồng trong chuyện cổ tích. Tất cả đều hồng hào, bụ bẫm, tóc để trái đào, mặt hoa da phấn, mắt sáng miệng tươi; chân đi giầy thêu, tay đeo vòng bạc... Hoạt động của các nhân vật được "khuôn chặt" trong một bố cục khép kín. Và để trách cảm giác gò bó, mỗi nhân vật được thể hiện trong một tư thế riêng. Sự thay đổi chiều hướng, động tác đã làm tăng tính vui nhộn, hiếu động của bầy trẻ.
    Kỹ thuật in tranh Hàng Trống thường chỉ dùng một bảm khắc nét rồi tô màu. Do vậy người vẽ được quyền chủ động trong việc pha màu.
    Bảng màu Thất đồng phong phú, phù hợp với chủ đề tranh: hồng đào, nâu đỏ, vàng chanh, xanh lục, xanh lam, xanh nước biển. Đặc biệt cách vờn màu trên da thịt với độ chuyển nhẹ nhàng làm cho khuôn mặt, cánh tay, bắp chân các nhân vật trở nên căng tròn, bụ bẫm.
    Để làm tôn nổi ngôn ngữ chính là màu, khác với dòng tranh Đông Hồ, đường nét ở đây bao giờ cũng mảnh mai, thanh thoát. Bằng những nét thật nhỏ, mềm, tác giả đã chú ý tả tỉ mỉ từng chi tiết, từ cánh hoa hồng, hoa đào, nhị hoa, gân lá, thân cây đến những hoa văn thêu trên quần áo, yếm, hài... các nhân vật.
    Không khí đầm ấm, tươi vui bao trùm lên từng khuôn mặt, từng mảng và toàn bộ bức tranh.
    Màu sắc bức tranh lộng lẫy, sang trọng do những trang phục đắt tiền của bảy chú bé tạo nên. Người và cảnh luôn gợi cảm xúc thanh bình, êm ả. Thất đồng thể hiện ước mơ, hoài vọng của những người làm tranh, xem tranh.

    Các tranh "Hổ", "Tố nữ", tranh "Lý ngự vọng nguyệt" - (Cá chép trông trăng) và tranh "Thất đồng" là những tranh nổi tiếng nhất của dòng tranh Hàng Trống - Hà Nội. Nét khắc quý phái, tinh vi uyển chuyển. Nghệ sĩ chỉ khắc một bản nét. In nét trước lên giấy rồi dùng phẩm tô màu. Màu tô có đậm nhạt làm nổi khối nuột nà cho người và cảnh vật.
     Vốn tranh dân gian nằm trong một mảng lớn của hội hoạ Việt nam cổ vẫn như một tia sáng mảnh mai nhưng không kém phần chói lọi. Tranh dân gian gắn liền với cuộc sống, với lễ giáo người Việt. Và hiện tại, cho dù cuộc sống có thay đổi, xô bồ, nhưng trong dòng tranh ấy vẫn tồn tại những con người, những nghệ nhân có đôi bàn tay vàng, đau đáu với nghề và vẫn luôn hy vọng duy trì được một vốn cổ của dân tộc.
    Nói tới tranh dân gian của người Việt, ta không thể không nói tới Tranh Hàng Trống. Là một dòng tranh kết hợp từ kỹ thuật tranh khắc gỗ với vờn màu thủ công. Tranh Hàng Trống có từ lâu đời và phát triển cùng nền văn hoá của thành cổ Hà nội xưa. Chủ yếu là tranh thờ như những bức Hương chủ , Ngũ hổ, Độc hổ, Sơn trang, Ông Hoàng Ba, Ông hoàng Bẩy... Ngoài ra cũng có những bức tranh chơi như : Tố nữ, Bốn mùa, (mỗi bản bốn vế), Tranh Kiều, Nhị độ mai; hoặc những bức phỏng theo các vở tuồng. Có những bức dùng để chơi Tết như tranh Gà , Cá chép trông trăng.... Nhưng tựu chung lại, Tranh Hàng Trống vẫn có một bản sắc riêng biệt, mầu sắc chói lọi nhưng không kém phần hài hoà, phong cách diễn tả sâu sắc. Đường nét chuyển động về hình hoạ thật tài tình, nhuần nhị. Kỹ thuật làm tranh Hàng Trống về căn bản cũng giống kỹ thuật tranh khắc gỗ nói chung. Ván bằng gỗ lồng mực hoặc gỗ thị. Mực in truyền thống dùng bằng những chất liệu dân dã nhưng cầu kỳ và tinh xảo trong chế tác. Màu đen làm từ tro rơm nếp hay tro lá tre được đốt và ủ kỹ, màu vàng của hoa hoè, màu chàm của núi rừng, màu son của sỏi đồi tán nhuyễn.
      Những sắc màu bình dị ấy pha với dung dịch hồ nếp cổ truyền tạo cho tranh một vẻ óng ả và trong trẻo mà các loại màu hiện đại không thể nào có được. Để tạo ra được một loại màu cổ truyền, các nghệ nhân phải ủ, phải sắc như sắc thuốc bắc, phải cô đặc dần bằng cách đun nhỏ lửa liên tục mấy ngày trời rồi lại lắng cặn, chắt nước. Cầu kỳ là vậy, nên những bức tranh không những có hồn của dân tộc mà còn in lên cả một sự khổ công của người vẽ.
      Một bức tranh Hàng Trống thường được bồi bằng ba đến bốn lớp giấy vì đặc thù của tranh khắc gỗ chỉ cho những đường nét đẹp trên một nền giấy mỏng (thường là giấy báo xước hay giấy xuyến chỉ, cao cấp hơn là nền lụa). Những chất liệu này sẽ cho một hiệu ứng màu chuẩn mực mang đậm dấu ấn của thiên nhiên.
      Một bức tranh thông thường như bức "Ông Hoàng Ba", nếu là một nghệ nhân lành nghề thì sẽ phải lao động cật lực khoảng mười đến mười hai giờ đồng hồ liên tục. Ông Hoàng Ba, theo truyền thuyết là con trai của Long vương, dân thuyền chài hay mua để thờ, hy vọng ngài sẽ xua đi những sự không may trong cuộc đời sông nước. Có những bức cầu kỳ hơn như " Tứ phủ công đồng " (khổ rộng 105 cm x 130 cm) sẽ mất của nghệ nhân sáu ngày làm việc liên tục, mỗi ngày từ mười đến mười hai tiếng. Công phu như vậy nên Tranh Hàng Trống cũng dần bị mai một và đến nay chỉ còn duy nhất một nghệ nhân. Ông là Lê Đình Nghiên (sinh năm 1950) con trai cụ Lê Đình Liệu (sinh năm 1912). Gia đình ông đã làm tranh Hàng Trống từ đời cụ tổ từ khoảng cuối thế kỷ XVI. Hiện tại ở gia đình ông còn khoảng 30 mặt ván và ông nói với một chất giọng hơi đau xót: " Nếu khôi phục được tất cả số vốn cổ truyền của ông cha để lại thì cũng phải ngót nghét 100 bản ". Đấy là nỗi đau lòng của ông, nhưng suy cho cùng, mỗi người chúng ta mang trong mình một dòng máu đỏ da vàng của người Việt, nghĩ đến câu nói đó, liệu có khỏi ngậm ngùi?
     
     
     
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến