| Kiều gặp Kim Trọng
Tố nữ Ở tranh "Tố nữ" không có thần thánh nào cả, chỉ có cái đẹp dịu dàng, mới mẻ mà quen thân. Chỉ có niềm vui của múa và hy vọng của âm nhạc với bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Thật là một lời chúc Tết, đón xuân rất sâu sắc cho tất cả mọi người. Thơ Hồ Xuân Hương vịnh tố nữ, người đẹp hát xương: "Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình... Chị cũng xinh mà em cũng xinh".
Thất Đồng Trong dòng tranh dân gian Hàng Trống, Thất đồng là một trong những tranh được các tầng lớp thị dân ưa chuộng, thường bày treo trong mỗi dịp Tết cổ truyền, bởi có thể coi Thất đồng như một lời chúc tụng đầu năm, như hiện thân của vẻ đẹp hoàn thiện và những ước vọng của con người về một cuộc sống phồn vinh hạnh phúc... Với khuôn khổ khá lớn (1,2m x 0,6m), tranh Thất đồng treo ở bất cứ vị trí nào cũng chiếm lĩnh và tỏa sáng cả một khoảng không gian lớn. Nó mang đến cho người xem không khí rực rỡ, tươi mát của những ngày đầu xuân. Tranh có bố cục như sau : Một cây đào, cành lá xum xuê, quả sai trĩu cành. Xúm xít quanh gốc đào là một bầy "thất đồng". Bảy chú bé xuất hiện trên tranh như những tiên đồng trong chuyện cổ tích. Tất cả đều hồng hào, bụ bẫm, tóc để trái đào, mặt hoa da phấn, mắt sáng miệng tươi; chân đi giầy thêu, tay đeo vòng bạc... Hoạt động của các nhân vật được "khuôn chặt" trong một bố cục khép kín. Và để trách cảm giác gò bó, mỗi nhân vật được thể hiện trong một tư thế riêng. Sự thay đổi chiều hướng, động tác đã làm tăng tính vui nhộn, hiếu động của bầy trẻ. Kỹ thuật in tranh Hàng Trống thường chỉ dùng một bảm khắc nét rồi tô màu. Do vậy người vẽ được quyền chủ động trong việc pha màu. Bảng màu Thất đồng phong phú, phù hợp với chủ đề tranh: hồng đào, nâu đỏ, vàng chanh, xanh lục, xanh lam, xanh nước biển. Đặc biệt cách vờn màu trên da thịt với độ chuyển nhẹ nhàng làm cho khuôn mặt, cánh tay, bắp chân các nhân vật trở nên căng tròn, bụ bẫm. Để làm tôn nổi ngôn ngữ chính là màu, khác với dòng tranh Đông Hồ, đường nét ở đây bao giờ cũng mảnh mai, thanh thoát. Bằng những nét thật nhỏ, mềm, tác giả đã chú ý tả tỉ mỉ từng chi tiết, từ cánh hoa hồng, hoa đào, nhị hoa, gân lá, thân cây đến những hoa văn thêu trên quần áo, yếm, hài... các nhân vật. Không khí đầm ấm, tươi vui bao trùm lên từng khuôn mặt, từng mảng và toàn bộ bức tranh. Màu sắc bức tranh lộng lẫy, sang trọng do những trang phục đắt tiền của bảy chú bé tạo nên. Người và cảnh luôn gợi cảm xúc thanh bình, êm ả. Thất đồng thể hiện ước mơ, hoài vọng của những người làm tranh, xem tranh.
Các tranh "Hổ", "Tố nữ", tranh "Lý ngự vọng nguyệt" - (Cá chép trông trăng) và tranh "Thất đồng" là những tranh nổi tiếng nhất của dòng tranh Hàng Trống - Hà Nội. Nét khắc quý phái, tinh vi uyển chuyển. Nghệ sĩ chỉ khắc một bản nét. In nét trước lên giấy rồi dùng phẩm tô màu. Màu tô có đậm nhạt làm nổi khối nuột nà cho người và cảnh vật. Vốn tranh dân gian nằm trong một mảng lớn của hội hoạ Việt nam cổ vẫn như một tia sáng mảnh mai nhưng không kém phần chói lọi. Tranh dân gian gắn liền với cuộc sống, với lễ giáo người Việt. Và hiện tại, cho dù cuộc sống có thay đổi, xô bồ, nhưng trong dòng tranh ấy vẫn tồn tại những con người, những nghệ nhân có đôi bàn tay vàng, đau đáu với nghề và vẫn luôn hy vọng duy trì được một vốn cổ của dân tộc. Nói tới tranh dân gian của người Việt, ta không thể không nói tới Tranh Hàng Trống. Là một dòng tranh kết hợp từ kỹ thuật tranh khắc gỗ với vờn màu thủ công. Tranh Hàng Trống có từ lâu đời và phát triển cùng nền văn hoá của thành cổ Hà nội xưa. Chủ yếu là tranh thờ như những bức Hương chủ , Ngũ hổ, Độc hổ, Sơn trang, Ông Hoàng Ba, Ông hoàng Bẩy... Ngoài ra cũng có những bức tranh chơi như : Tố nữ, Bốn mùa, (mỗi bản bốn vế), Tranh Kiều, Nhị độ mai; hoặc những bức phỏng theo các vở tuồng. Có những bức dùng để chơi Tết như tranh Gà , Cá chép trông trăng.... Nhưng tựu chung lại, Tranh Hàng Trống vẫn có một bản sắc riêng biệt, mầu sắc chói lọi nhưng không kém phần hài hoà, phong cách diễn tả sâu sắc. Đường nét chuyển động về hình hoạ thật tài tình, nhuần nhị. Kỹ thuật làm tranh Hàng Trống về căn bản cũng giống kỹ thuật tranh khắc gỗ nói chung. Ván bằng gỗ lồng mực hoặc gỗ thị. Mực in truyền thống dùng bằng những chất liệu dân dã nhưng cầu kỳ và tinh xảo trong chế tác. Màu đen làm từ tro rơm nếp hay tro lá tre được đốt và ủ kỹ, màu vàng của hoa hoè, màu chàm của núi rừng, màu son của sỏi đồi tán nhuyễn. Những sắc màu bình dị ấy pha với dung dịch hồ nếp cổ truyền tạo cho tranh một vẻ óng ả và trong trẻo mà các loại màu hiện đại không thể nào có được. Để tạo ra được một loại màu cổ truyền, các nghệ nhân phải ủ, phải sắc như sắc thuốc bắc, phải cô đặc dần bằng cách đun nhỏ lửa liên tục mấy ngày trời rồi lại lắng cặn, chắt nước. Cầu kỳ là vậy, nên những bức tranh không những có hồn của dân tộc mà còn in lên cả một sự khổ công của người vẽ. Một bức tranh Hàng Trống thường được bồi bằng ba đến bốn lớp giấy vì đặc thù của tranh khắc gỗ chỉ cho những đường nét đẹp trên một nền giấy mỏng (thường là giấy báo xước hay giấy xuyến chỉ, cao cấp hơn là nền lụa). Những chất liệu này sẽ cho một hiệu ứng màu chuẩn mực mang đậm dấu ấn của thiên nhiên. Một bức tranh thông thường như bức "Ông Hoàng Ba", nếu là một nghệ nhân lành nghề thì sẽ phải lao động cật lực khoảng mười đến mười hai giờ đồng hồ liên tục. Ông Hoàng Ba, theo truyền thuyết là con trai của Long vương, dân thuyền chài hay mua để thờ, hy vọng ngài sẽ xua đi những sự không may trong cuộc đời sông nước. Có những bức cầu kỳ hơn như " Tứ phủ công đồng " (khổ rộng 105 cm x 130 cm) sẽ mất của nghệ nhân sáu ngày làm việc liên tục, mỗi ngày từ mười đến mười hai tiếng. Công phu như vậy nên Tranh Hàng Trống cũng dần bị mai một và đến nay chỉ còn duy nhất một nghệ nhân. Ông là Lê Đình Nghiên (sinh năm 1950) con trai cụ Lê Đình Liệu (sinh năm 1912). Gia đình ông đã làm tranh Hàng Trống từ đời cụ tổ từ khoảng cuối thế kỷ XVI. Hiện tại ở gia đình ông còn khoảng 30 mặt ván và ông nói với một chất giọng hơi đau xót: " Nếu khôi phục được tất cả số vốn cổ truyền của ông cha để lại thì cũng phải ngót nghét 100 bản ". Đấy là nỗi đau lòng của ông, nhưng suy cho cùng, mỗi người chúng ta mang trong mình một dòng máu đỏ da vàng của người Việt, nghĩ đến câu nói đó, liệu có khỏi ngậm ngùi? |